1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Tịnh Quang của Lạc

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi Prahevajra, 14/12/2025.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Mặc dù một thiền giả thành tựu có thể an trú trong tịnh quang trong một thời gian dài, những cuối cùng họ phải tiến lên. Khi chúng ta xuất hiện từ tịnh quang, điều đầu tiên ta trải nghiệm là tâm đen gần thành tựu theo thứ tự ngược lại. Sau đó, ta trải nghiệm theo trình tự tâm đỏ tăng cường, tâm trắng, tám mưới tâm khái niệm thô, tâm xuất hiện giống ngọn nến, vân vân, tâm diễn hóa theo thứ tự ngược lại với trình tự mà chúng đã hòa tan trước đó.

    Vì vậy, tâm của tịnh quang là nền tảng cho tất cả các tâm thức khác. Khi các tâm thô và vi tế cùng với các luồng khí của chúng hòa tan vào giọt bất hoại ở luân xa tim, chúng ta chỉ còn lại tịnh quang, rồi sau đó chính từ tịnh quang này mà tất cả các tâm thức khác diễn hóa, mỗi tâm thức thô hơn tâm trước đó.

    Nói chung, người ta nói rằng có 25 hiện tượng thô tan rã khi một chúng sinh trải qua quá trình chết. Đó là:

    Năm uẩn:

    1. Nhóm của hình tướng, sắc

    2. Nhóm của cảm nhận, thọ

    3. Nhóm của sự phân biệt, tưởng

    4. Nhóm các yếu tố thành phần, hành

    5. Nhóm nhận thức, thức

    Bốn nguyên tố:

    6. Đất

    7. Nước

    8. Lửa

    9. Gió

    Sáu năng lực:

    10. Năng lực giác quan mắt

    11. Năng lực giác quan tai

    12. Năng lực giác quan mũi

    13. Năng lực giác quan lưỡi

    14. Năng lực giác quan thân thể

    15. Năng lực tinh thần

    Năm đối tượng:

    16. Các hình dạng thị giác bao gồm trong dòng tương tục của ta

    17. Âm thanh trong dòng tương tục của chúng ta

    18. Mùi hương trong dòng tương tục của ta

    19. Vị trong dòng tương tục của ta

    20. Các vật thể xúc chạm trong dòng tương tục của ta

    Năm trí tuệ căn bản:

    21. Trí tuệ căn bản như gương

    22. Trí tuệ căn bản bình đẳng

    23. Trí tuệ căn bản phân biệt cá thể

    24. Trí tuệ căn bản thành tựu các hoạt động

    25. Trí tuệ căn bản pháp giới


    Bốn nhóm đầu tiên trong số này dễ hiểu. Đối với năm trí tuệ căn bản, sau đây là một giải thích ngắn gọn về chúng. Trí tuệ như gương căn bản được gọi như vậy vì nó là một tâm trí bình thường có thể nhận thức nhiều đối tượng cùng một lúc, giống như một tấm gương có thể đồng thời phản chiếu nhiều hình dạng khác nhau. Trí tuệ căn bản bình đẳng là tâm trí nhớ lại những kinh nghiệm như dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính. Trí tuệ căn bản phân biệt cá thể là tâm trí nhớ lại tên riêng của bạn bè, người thân, vân vân. Trí tuệ căn bản hoàn thành các hoạt động là tâm trí nhớ lại các hoạt động bên ngoài thông thường, mục đích, vân vân. Trí tuệ căn bản pháp giới là tâm trí hạt giống của pháp thân trí tuệ Phật.

    Vào thời điểm chết, hầu hết mọi người đều trải qua sự tan rã của 25 đối tượng này theo thứ tự được chỉ ra bên dưới, với một số hiện tượng tan rã tương ứng với từng uẩn trong năm uẩn:

    Năm hiện tượng ở cấp độ của sắc uẩn:

    1. Sắc uẩn

    2. Trí tuệ căn bản như gương

    3. Nguyên tố đất

    4. Năng lực giác quan mắt

    5. Các hình dạng thị giác trong dòng tương tục của ta

    Năm hiện tượng ở cấp độ thọ uẩn

    6. Thọ uẩn

    7. Trí tuệ căn bản bình đẳng

    8. Nguyên tố nước

    9. Năng lực giác quan tai

    10. Âm thanh trong dòng tương tục của ta

    Năm hiện tượng ở cấp độ tưởng uẩn

    11. Tưởng uẩn

    12. Trí tuệ căn bản phân biệt cá thể

    13. Nguyên tố lửa

    14. Năng lực giác quan mũi

    15. Mùi hương trong dòng tương tục của ta

    Năm hiện tượng ở cấp độ hành uẩn

    16. Hành uẩn

    17. Trí tuệ căn bản thành tựu các hoạt động

    18. Nguyên tố gió

    19. Năng lực giác quan lưỡi

    20. Vị bao gồm trong dòng tương tục của ta

    Năm hiện tượng ở cấp độ thức uẩn

    21. 80 tư tưởng biểu lộ

    22. Tâm của sự xuất hiện màu trắng

    23. Tâm của màu đỏ tăng cường

    24. Tâm của màu đen gần thành tựu

    25. Tâm tịnh quang của cái chết

    Các dấu hiệu bên ngoài liên quan đến sự tan rã của mỗi một trong năm hiện tượng của sắc uẩn là:

    1. Tứ chi của cơ thể trở nên gầy đi và cơ thể yếu hơn, mất đi sức mạnh

    2. Tầm của chúng ta trở nên không rõ ràng, mờ nhạt

    3. Cơ thể trở nên gầy gò, tứ chi lỏng lẻo, chúng ta có cảm giác chìm xuống đất

    4. Chúng ta không thể mở hoặc nhắm mắt được nữa

    5. Sự tươi sáng của cơ thể bị mất đi, vẻ đẹp của chúng ta bị giảm sút

    Dấu hiệu bên trong liên quan đến năm sự tan rã này là hình dạng giống như ảo ảnh. Sự xuất hiện này phát sinh vì khí của nguyên tố đất tan rã trong trung mạch, sức mạnh của nguyên tố đất giảm đi, do đó như thể sức mạnh của nguyên tố nước mạnh hơn.

    Các dấu hiệu bên ngoài liên quan đến sự tan rã của mỗi một trong năm hiện tượng ở cấp độ thọ uẩn là:

    6. Nhận thức về cơ thể không còn cảm thấy dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính nữa

    7. Chúng ta không còn trải nghiệm những cảm giác cá nhân về tinh thần như hạnh phúc, đau khổ hay thờ ơ

    8. Các chất lỏng trong cơ thể bắt đầu khô kiệt

    9. Chúng ta không còn nghe thấy âm thanh bên ngoài nữa

    10. Tiếng vo ve bên trong tai không còn nhận thức được nữa

    Dấu hiệu bên trong liên quan đến năm sự tan rã này là hình dạng giống như khói. Hình dạng này phát sinh vì sức mạnh của nguyên tố nước đang giảm và do đó như thể sức mạnh của nguyên tố lửa đang trở nên mạnh hơn.

    Các dấu hiệu bên ngoài liên quan đến sự tan rã của mỗi một trong năm hiện tượng ở cấp độ tưởng uẩn là:

    11. Chúng ta không còn nhận ra được người thân và bạn bè

    12. Chúng ta không còn nhớ được tên của những người thân và bạn bè thân thiết

    13. Nhiệt độ thoát khỏi cơ thể và quá trình tiêu hóa dừng lại

    14. Hơi hít vào của ta trở nên yếu và nông, trong khi hơi thở ra trở nên dài và mạnh, chúng ta bắt đầu thở khò khè và phát ra tiếng thở hấp hối

    15. Ta không còn phát hiện được ra mùi, kể cả mùi của chính mình

    Dấu hiệu bên trong liên quan đến năm sự tan rã này là hình dạng lấp lánh giống như đom đóm. Hình dạng này phát sinh vì sức mạnh của nguyên tố lửa đang giảm và do đó như thể sức mạnh nguyên tố gió đang trở nên mạnh hơn.

    Các dấu hiệu bên ngoài liên quan đến sự tan rã của mỗi một trong năm hiện tượng ở cấp độ hành uẩn là:

    16. Ta không thể di chuyển được nữa

    17. Ta không còn nhớ múc đích của công việc và hoạt động hoặc thậm chí chúng là gì trong kiếp sống đang kết thúc

    18. Không còn hít vào hay thở ra thông qua các lỗ mũi nữa, mọi hơi thở đều dừng lại vì 10 luồng khí đã kết tụ ở tim.

    19. Lưỡi trở nên ngắn, dày và xanh ở gốc, và chúng ta không còn có thể nói rõ ràng nữa.

    20. Không còn khả năng trải nghiệm các vị

    Cũng vào thời điểm này, nhận thức về cơ thể không còn khả năng kinh nghiệm bất cứ đối tượng xúc giác nào như độ nhám, độ mịn, độ cứng, độ mềm, nóng và lạnh. Điều này do sự tan rã của các năng lực giác quan cơ thể và các đối tượng xúc giác nằm trong dòng tương tục của chính chúng ta. Dấu hiệu bên trong liên quan đến toàn bộ sự tan rã này là hình dạng giống như ngọn nến.

    Vào thời điểm này, hầu hết các tâm thức thô cùng với khí của chúng đã tan rã, những gì còn lại là kinh nghiệm về sự tan rã của thức uẩn. Uẩn này có các cấp độ thô và tế. Tâm thức thô cuối cùng tan rã nhất thiết phải là một trong 80 tư tưởng biểu lộ. Một trong số những tư tưởng này phụ thuộc vào các hoạt động và thói quen của người sắp chết trong kiếp sống đang kết thúc. Ví dụ, nếu người đó đã tu luyện sâu rộng bồ đề tâm, thì tâm thức thô cuối cùng phát sinh có thể là tâm từ bi. Mặt khác, tư tưởng thô cuối cùng trong dòng tương tục của một người có tâm thức hỗn loạn có thể là tức giận hoặc dính chấp. Bây giờ, khi hình dạng như ngọn nến đã phát sinh, tâm thức cuối cùng trong 80 tâm thức này cuối cùng hấp thụ cùng với sức mạnh tinh thần thô và trí tuệ căn bản của pháp giới.
  2. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Mặc dù chúng ta có vô số tâm niệm thô, nhưng tất cả chúng đều nằm trong 80 tư tưởng thô. Những thứ này đến lượt nó lại được chia thành ba nhóm: 33 tư tưởng thô biểu lộ tâm trí của hình dạng màu trắng, 40 tư tưởng biểu lộ tâm của màu đỏ tăng cường, 7 tư tưởng biểu thị tâm màu đen gần thành tựu. Chúng được gọi là “biểu lộ”vì những tư tưởng này là lý do quyết định biểu lộ sự tồn tại của những tâm thức tinh tế mà chúng phát sinh. Dòng tương tục của 33 tư tưởng đầu tiên khởi nguồn phát sinh từ tâm của hình dạng màu trắng xuất hiện rồi hòa tan trở lại vào tâm đó lúc chết. Tương tự, dòng tương tục của 40 tư tưởng tiếp theo ban đầu phát sinh từ tâm của màu đỏ tăng cường và tan rã trở lại vào tâm đó khi chết., dòng tương tục của 7 tư tưởng cuối cùng lúc đầu khởi nguồn phát sinh từ tâm màu đen gần thành tựu và tan rã trở lại vào tâm đó khi chết. Vì vậy, mặc dù tất cả 80 tư tưởng thô đều tan rã trước khi tâm của hình dạng màu trắng phát sinh, nhưng dòng tương tục của chúng không tan biến hoàn toàn vào thời điểm này. Dòng tương tục của 33 tư tưởng đầu tiên cuối cùng ta vào thời diểm tâm của hình dạng màu trắng, dòng tương tục của 40 tư tưởng tiếp theo vào thời điểm tâm của màu đỏ tăng cường, và dòng tương tục của 7 tư tưởng cuối vào thời điểm tâm màu đen gần thành tựu.

    Bình thường, chúng ta không có nhận thức về tâm của hình dạng trắng, tăng cường đỏ và cận thành tựu đen vì đối với chúng sinh bình thường, những tâm này chỉ xuất hiện yếu ớt khi chìm vào giấc ngủ và mạnh hơn một chút trong quá trình chết; nhưng vào những thời điểm như vậy, chúng ta không có tâm tỉnh giác thô. Tuy nhiên, ta có thể biết về sự tồn tại của ba tâm vi tế này thông quá kinh nghiệm của mình về 80 tư tưởng thô, phát sinh từ chúng và là kết quả của chúng. Ví dụ, bằng cách quan sát 33 tư tưởng đầu tiên, ta có thể thấy rằng bản thân các tâm và khí gắn kết của chúng phát sinh khá mạnh hoặc thô. Tương tự, ta có thể quan sát thấy tâm và khí của 40 tư tưởng tiếp theo phát sinh ít mạnh hơn, còn tâm và khí của 7 tư tưởng cuối cùng thậm chí còn yếu hơn. Từ đó, ta có thể suy ra sự tồn tại của ba loại tâm và khí vi tế tạo ra những tư tưởng thô này, mỗi loại đều tinh tế hơn loại trước đó và theo cách này, chúng ta có thể biết về sự tồn tại của các tâm của hình dạng trắng, tăng cường đỏ, và cận thành đen. Vì vậy, do 80 tư tưởng thô này là những lý do quyết định, là những kết quả chỉ ra sự tồn tại cho nguyên nhân của chúng, nên chúng được gọi là “biểu lộ” của ba tâm vi tế.

    Ba nhóm tư tưởng thô này được liệt kê như sau:


    33 khái niệm biểu thị tâm trí của hình dạng màu trắng:

    1. Tách biệt lớn khỏi sự dính mắc: một tâm trí không mong muốn một đối tượng

    2. Tách biệt trung bình khỏi dính mắc

    3. Tách biệt nhỏ khỏi dính mắc

    4. Tinh thần đến và đi: tâm trí đi ra các đối tượng bên ngoài và đi vào các đối tượng bên tỏng

    5. Nỗi khổ lớn: nỗi lo lắng tinh thần được kinh nghiệm khi phải xa rời một đối tượng hấp dẫn

    6. Nỗi khổ trung bình

    7. Nỗi khổ nhỏ

    8. Thanh bình: tâm trí duy trì thanh bình

    9. Khái niệm: một tâm trí bị xao lãng hướng tới một đối tượng bên ngoài

    10. Nỗi sợ lớn: tâm trí sợ hãi phát sinh khi gặp phải một vật khó chịu

    11. Nỗi sợ trung bình

    12. Nỗi sợ nhỏ

    13. Tham lớn: tâm trí bị thu hút bởi một đối tượng dễ chịu

    14. Tham trung bình

    15. Tham nhỏ

    16. Nắm giữ: một tâm trí nắm giữ chặt chẽ các đối tượng ham muốn

    17. Phi đạo đức: nghi ngờ về hành động đạo đức

    18. Đói: một tâm trí thèm muốn thức ăn

    19. Khát: tâm trí thèm khát uống

    20. Cảm xúc lớn: cảm xúc vui, đau đớn hoặc thờ ơ

    21. Cảm xúc trung bình

    22. Cảm xúc nhỏ

    23. Khái niệm về người nhận thức

    24. Khái niệm về nhận thức

    25. Khái niệm về đối tượng được nhận thức

    26. Điều tra: một tâm trí điều tra những gì phù hợp và không phù hợp

    27. Xấu hổ: tâm trí từ bỏ hành vi sai trái vì những lý do liên quan đến bản thân

    28. Từ: tâm trí mong muốn người khác thoát khỏi đau khổ

    29. Bi: tâm trí bảo vệ hoàn toàn một đối tượng quan sát

    30. Mong muốn gặp gỡ điều hấp dẫn

    31. Lo ngại: tâm trí không an trú trong tính chắc chắn

    32. Sưu tầm: tâm trí thu thập của cải

    33. Ghen tị: tâm trí bị quấy rầy bởi may mắn hoặc phẩm chất tốt của người khác
  3. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    40 khái niệm biểu thị cho tâm trí của sự tăng cường màu đỏ

    1. Dính mắc: tâm trí dính mắc vào một đối tượng chưa đạt được

    2. Giữ: tâm trí dính mắc với một đối tượng đã đạt được

    3. Niềm vui lớn: tâm vui vẻ khi thấy điều hấp dẫn

    4. Niềm vui trung bình

    5. Niềm vui nhỏ

    6. Hân hoan: tâm vui vẻ khi đạt được mục tiêu mong muốn

    7. Sung sướng: tâm trí liên tục kinh nghiệm một đối tượng khao khát

    8. Ngạc nhiên: chiêm nghiệm một đối tượng chưa từng xuất hiện trước đó

    9. Phấn khích: tâm bị xao lãng khi nhận biết một đối tượng hấp dẫn

    10. Hài lòng: tâm trí thỏa mãn với đối tượng dễ chịu

    11. Ôm ấp: một tâm trí muốn ôm áp

    12. Hôn: tâm trí muốn hôn

    13. Hút: tâm muốn hút

    14. Ổn định: tâm trí liên tục không thay đổi

    15. Nỗ lực: tâm trí hướng đến thiện hạnh

    16. Kiêu ngạo: tâm trí tự cho mình là cao cả

    17. Hành vi: ý định hoàn thành một hành động

    18. Cướp: tâm trí muốn ăn trộm của cải

    19. Sức mạnh: tâm trí muốn chinh phục người khác

    20. Thích thú: tâm trí quen dần với con đường thiện hạnh

    21. Đại bẩm sinh: tâm trí gắn liền phi đạo đức vì kiêu ngạo

    22. Trung bẩm sinh

    23. Tiểu bẩm sinh

    24. Hăng hái: muốn tranh biện với người xuất chúng mà không có lý do

    25. Tán tỉnh: muốn chơi đùa khi thấy đối tượng hấp dẫn

    26. Khuynh hướng tức giận: tâm trạng phẫn nộ

    27. Đức hạnh: tâm trí mong muốn đặt tinh tấn trên nền tảng thiện hạnh

    28. Lời nói và sự thật rõ ràng: tâm trí muốn nói để người khác có thể hiểu, tâm trí không thay đổi cách phân biệt của mình về các sự kiện

    29. Dối trá: tâm trí muốn nói những đã thay đổi khả năng phân biệt sự thật

    30. Xác định: tâm trí có ý đồ kiên định

    31. Không nắm giữ: tâm trí không muốn nắm giữ thứ gì

    32. Người tài trợ: tâm trí muốn cho đi tài sản

    33. Khuyên răn: tâm trí muốn khuyên bảo những người lười thực hành pháp

    34. Chủ nghĩa anh hùng: tâm trí muốn chiến thắng kẻ thù chẳng hạn như ảo tưởng

    35. Không xấu hổ: tâm trí gắn liền với tính bất thiện, không từ bỏ hành vi sai trái mặc dù chúng ta không chấp nhận hoặc bị cấm đoán bởi tôn giáo

    36. Giả vờ: tâm trí lừa dối người khác thông qua đạo đức giả

    37. Chặt chẽ: tâm trí có lòng tận tụy khôn ngoan

    38. Xấu xa: tâm trí quen với quan điểm xấu

    39. Không hiền lành: tâm trí muốn làm tổn thương người khác

    40. Gian đối: tâm trí gian dối


    7 khái niệm biểu thị tâm trí của màu đen gần thành tựu

    1. Dính mắc trung bình: tâm trí với sự dính mắc và ghét bỏ ngang nhau

    2. Quên: tâm trí có chánh niệm bị suy thoái

    3. Sai lầm: tâm trí nhận thức một ảo ảnh thành nước thực sự, vân vân

    4. Không nói: tâm trí không muốn nói

    5. Trầm cảm: tâm trí phiền muộn

    6. Lười biếng: tâm trí không vui với thiện hạnh

    7. Nghi ngờ: tâm trí không chắc chắn

    Sau khi 80 tâm thô này tan rã, người hấp hối sẽ kinh nghiệm sự tan rã của các tâm vi tế, bắt đầu với tâm có hình dạng màu trắng, nhận thức được hình dạng giống như bầu trời trong xanh, trống rỗng được bao trùm bởi ánh sáng chói màu trắng. Hình dạng màu trắng mà tâm này nhận thức phát sinh vì nút thắt ở luân xa đỉnh đầu đã nới lỏng hoàn toàn và giải phóng giọt màu trắng, sau đó giọt này đi xuống qua trung mạch. Hình dạng màu trắng xảy ra trong khi giọt này đang đi xuống luân xa tim và kéo dài cho đến khi nó đạt đến đỉnh của giọt bất hoại ở tim. Do đó, đối tượng thực sự của nhận thức tại thời điểm này giống như hình dạng bầu trời trống rỗng, nhưng hình dạng này được bao trùm bởi màu trắng vì giọt trắng đang đi xuống. Tâm trí nhận thức được hình tướng này được gọi theo nhiều tên khác nhau là “tâm có hình dạng màu trắng”, “không”, hoặc “không đầu tiên”.

    Khi tâm có hình tướng màu trắng và khí cưỡi trên nó cuối cùng tan biến vào giọt bất hoại ở luân xa tim, dấu hiệu của sự tan biến của chúng là sự xuất hiện của tâm tăng cường màu đỏ, nhận thức được hình tướng giống như bầu trời trống rỗng tràn ngập ánh sáng mặt trời màu đỏ. Hình dạng màu đỏ mà tâm này nhận thức xuất hiện vì nút thắt ở luân xa rỗn giờ đã nới lỏng hoàn toàn và giải phóng giọt màu đỏ, giọt này đi lên qua trung mạch.

    Sự xuất hiện của màu đỏ xảy ra khi giọt đỏ này đang đi lên về phía luân xa tim và kéo dài cho đến khi nó chạm đến đáy của giọt bất hoại ở tim. Tâm trí nhận thức được hình dạng này được gọi khác nhau như “tâm tăng cường màu đỏ”, “chính không” hoặc “không thứ hai”.

    Vào lúc này, giọt bất hoại được bao bọc hoàn toàn trong hai giọt: giọt trắng rơi xuống từ đỉnh đầu và giọt đỏ đi lên từ rốn. Hai giọt này bao phủ giọt bất hoại như một chiếc hộp bao quanh nó, do đó tạo ra kinh nghiệm về bóng tối. Tâm trí nhận thức được bóng tối này là tâm đen gần thành tựu, nhận thức được một hình dạng giống như bầu trời trống rỗng tràn ngập màu đen. Nó phát sinh khi tâm đỏ tăng cường cùng với khí gắn kết với nó đã hòa tan vào giọt bất hoại. Như đã đề cập trước đó, khi tâm đen gần đạt được đầu tiên phát sinh, chúng ta duy trì chánh niệm vi tế, nhưng khi tâm trí này tiến triển, ta hoàn toàn mất chánh niệm. Tâm trí nhận thức này được gọi khác nhau là “tâm đen gần thành tựu”, “đại không” hoặc “không thứ ba”.

    Sau kinh nghiệm của tâm trí gần thành tựu màu đen, các nút thắt của luân xa tim nới lỏng hoàn toàn, cho phép giọt trắng tiếp tục đi xuống và giọt đỏ đi lên. Khi những giọt này tách ra, người hấp hối kinh nghiệm tâm tịnh quang của cái chết, nhận thức được một hình ảnh giống như bầu trời trong trẻo, trống rỗng vào lúc bình mình. Cũng giống như việc từ từ mở nắp hộp để ánh sáng đi vào ngày càng nhiều, thì sự chia tách của hai giọt đóng kín tạo ra kinh nghiệm về tịnh quang. Khi các giọt tách ra, người hấp hối lấy lại được chánh niệm rất vi tế do kết quả của tâm rất vi tế và khí cưỡi của nó biểu hiện. Tâm nhận thức này được gọi khác nhau là “tâm tịnh quang của cái chết”, “toàn thể không”, hay “không thứ tư”.

    Trong khi chúng ta đang kinh nghiệm tịnh quang của cái chết, ta thực sự không chết. Điều này là do giọt bất hoại ở tim được hình thành từ các giọt trắng và đỏ rất vi tế nhận được từ cha mẹ chúng ta khi thụ thai và hiện diện trong suốt cuộc đời, vẫn chưa được mở. Cái chết thực sự xảy ra khi giọt được mở ra và tâm rất vi tế cùng khí gắn kết của nó rời đi đến kiếp sống tiếp theo.

    Trong quá trình trải nghiệm tịnh quang của cái chết, mọi luồng khí đều tan biến thành giọt bất hoại ở tim. Sau khi quá trình này hoàn tất, những giọt trắng và đỏ rất vi tế tạo nên giọt bất hoại cuối cùng tách ra và tâm rất vi tế cùng khí gắn kết với nó rời đi đến kiếp sống tiếp theo. Những dấu hiệu chung bên ngoài cho thấy chúng ta thực sự đã chết và tâm cùng khí rất vi tế đã rời đi là giọt trắng thoát ra qua cơ quan sinh dục và giọt đỏ thoát ra qua lỗi mũi. Tuy nhiên, những dấu hiệu này không xảy ra đối với những người chết đột ngột hoặc chết hung bạo.

    Ngay khi kinh nghiệm tịnh quan chấm dứt, sự ngây ngất sâu sắc của tâm đen gần thành tựu thuộc thứ tự đảo ngược xuất hiện. Đây là tâm đầu tiên của trạng thái trung ấm. Sau đó, như đã đề cập, chúng ta kinh nghiệm theo trình tự tâm tăng cường màu đỏ, tâm hình dạng màu trắng, sự tái xuất của 80 khái niệm biểu thị và hình dạng giống như ngọn nến, tiếp theo là hình dạng giống như đom đóm lấp lánh, hình dạng như khói, cuối cùng là hình dạng giống như ảo ảnh, cùng với các ý thức liên quan của chúng. Tóm lại, sau tịnh quang của cái chết, chúng sinh trạng thái trung ấm trải nghiệm bảy dấu hiệu còn lại theo thứ tự ngược lại.

    Nếu trong vòng bảy ngày, một chúng sinh trung ấm không tìm thấy những điều kiện nghiệp thích hợp để tái sinh, họ sẽ trải qua một cái chết nhỏ, sau đó nhận một thân trung ấm khác. Khi cuộc sống trung ấm kết thúc, chúng ta kinh nghiệm tám dấu hiệu từ hình dạng giống như ảo ảnh đến tịnh quang, và khi cuộc sống trung ấm tiếp theo bắt đầu, ta trải nghiệm bảy dấu hiệu theo thứ tự ngược lại, từ màu đen gần thành tựu đến hình dạng giống như ảo ảnh.
  4. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Một chúng sinh trong trạng thái trung ấm chắc chắn sẽ tìm thấy nơi tái sinh trong vòng 49 ngày. Khi nơi này đã sẵn sàng, người đó sẽ chết và nhận thức tám dấu hiệu từ hình dạng giống như ảo ảnh đến tịnh quang. Ví dụ, nếu chúng sinh đó có nghiệp được tái sinh thành người, thì khi kinh nghiệm tịnh quang kết thúc, tâm rất vi tế và khí cưỡi của nó sẽ đi vào tử cung của người mẹ. Tâm đầu tiên khi thụ thai trong tử cung là tâm gần đạt được màu đen, sau đó các dấu hiệu còn lại của thứ tự đảo ngược dần dần được trải nghiệm. Tiếp theo, khi thai nhi phát triển, tâm của chúng sinh mới thụ thai dần trở nên thô hơn.

    Từ lời giải thích ngắn gọn về cái chết, trạng thái trung ấm và tái sinh này, chúng ta có thể hiểu sơ bộ về quá trình mà người thực hành Đại Ấn Kim Cương Thừa phải kiểm soát và chuyển hóa.

    Cho đến nay trong văn bản này, thuật ngữ “tịnh quang” đã được sử dụng để chỉ một số loại kinh nghiệm khác nhau. Vì kinh nghiệm tịnh quang có tầm quan trọng cốt lõi trong thiền Đại Ấn nên sẽ có ích ở giai đoạn này khi giải thích ngắn gọn các loại tâm tịnh quang khác nhau.

    Tịnh quang được định nghĩa là tâm rất vi tế phát sinh thông qua sức mạnh của tâm đen gần đạt được và được kinh nghiệm trực tiếp sau khi tâm đen gần đạt được đã chấm dứt. Tịnh quang của cái chết, ví dụ, chỉ có thể được trải nghiệm sau khi dấu hiệu thứ bảy của cái chết chấm dứt. Có hai loại tịnh quang: tịnh quang mẹ và tịnh quang con. Loại trước là tịnh quang phát sinh tự nhiên trong khi ngủ và chết, còn loại sau là tịnh quang chỉ phát sinh khi các luồng khí đã hòa tan trong trung mạch thông qua sức mạnh thiền định.

    Có hai loại tịnh quang: tâm cô lập của tịnh quang và tâm không cô lập của tịnh quang. Thuật ngữ “tâm cô lập” nói chung ám chỉ một tâm trí cô lập khỏi những luồng khí mà các tâm thô thiển đang gắn kết. Cụ thể hơn, nó được áp dụng cho một trong bốn không phát sinh khi, thông qua sức mạnh thiền định, những luồng khí hòa tan vào giọt bất hoại ở luân xa tim. Do đó, tâm có hình dạng màu trắng phát sinh thông qua sức mạnh của các luồng khí hòa tan vào giọt bất hoại ở tim thông qua thiền định là một tâm trí cô lập, cũng như các tâm tăng cường màu đỏ và gần đạt được màu đen phát sinh khi các luồng khí hòa tan vàp giọt bất hoại ở tim thông quan thiền định. Tuy nhiên, không có tâm nào trong số này là tâm cô lập của tịnh quang. Tâm này chỉ phát triển sau khi không thứ ba, tâm cô lập gần đạt được màu đen, đã chấm dứt.

    Đối với tâm không cô lập của tịnh quang, đây là tâm của tịnh quang phát sinh khi, thông qua thiền định, các luồng khí hòa tan vào trung mạch thông qua một trong chín cửa ngoài luân xa tim. Như trước đây, một tâm như vậy chỉ có thể được kinh nghiệm sau sự chấm dứt của tâm đen gần đạt được, nhưng không phải tâm đen gần đạt được phát sinh khi các luồng khí hòa tan trong trung mạch thông qua tim. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tâm không cô lập của tịnh quang được cô lập theo nghĩa là nó được loại bỏ khỏi các khí thô.

    Tịnh quang con cũng có thể được phân chia thành tịnh quang ví dụ và tịnh quang nghĩa. Cái trước là tịnh quang con nhận ra tính không một cách khái niệm, bằng phương tiện của một hình ảnh chung, còn cái sau là tịnh quang con nhận ra tính không một cách trực tiếp, không có một hình ảnh chung.

    Tịnh quang ví dụ cũng có hai phần tâm không cô lập của tịnh quang ví dụ và tâm cô lập của tịnh quang ví dụ. Cái trước là tịnh quang con nhận ra tính không bằng một hình ảnh chung khi các luồng khí đã hòa tan vào trung mạch tại bất cứ điểm nào khác ngoại giọt bất hoại ở tim, còn cái sau là tịnh quang con nhận ra tính không bằng một hình ảnh chung khi các luồng khí đã hòa tan vào giọt bất hoại ở tim.

    Tâm cô lập của tịnh quang ví dụ có hai phần: tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng và tâm cô lập của tịnh quang ví dụ không tối thượng. Cái trước là tịnh quang phát sinh thông qua sức mạnh của tất cả các luồng khí, bao gồm khí bao trùm toàn thể hòa tan vào giọt bất hoại ở tim, và sau này là tịnh quang phát sinh thông qua sức mạnh của bất cứ luồng khí nào, ngoài khí bao trùm toàn thể, hòa tan, thậm chí một phần, vào giọt bất hoại. Những kinh nghiệm của tịnh quang ví dụ tối thượng, và tịnh quang ví dụ không tối thượng đều phụ thuộc vào các nút thắt của luân xa tim được nới lỏng. Điều này là do cả tịnh quang ví dụ tối thượng và tịnh quang ví dụ không tối thượng đều là các tâm cô lập. Những phương pháp để đạt được các tâm cô lập này được giải thích trong năm giai đoạn của giai đoạn thành tựu.

    Có thể nới lỏng một phần các nút thắt của luân xa tim thông qua các thiền định như nội hỏa và niệm kim cương của mật điển Bí Mật Tập Hội. Mặc dù tám giai đoạn của thiền nội hỏa được mô tả trước đó chủ yếu tập trung vào luân xa rốn, nhưng một khi trung mạch đã được thâm nhập qua bất cứ cánh cửa nào, thì việc nới lỏng các nút thắt ở tim sẽ tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các thiền này, chúng ta không thể nới lỏng hoàn toàn các nút thắt ở luân xa tim và do đó khiến khí bao trùm toàn thể khắp nơi trong thân hòa tan vào giọt bất hoại trước khi chết. Vì vậy, khi đã hoàn thiện sức mạnh của các kỹ thuật như thiền nội hỏa và niệm kim cương, hành giả mật tông phải, hoặc là phải chấp nhận một mudra hành động, hoặc phải đợi cho đến lúc tịnh quang của cái chết như được giải thích bên dưới. Nếu không chấp nhận một mudra hành động, thì việc chỉ hành thiền sẽ không thể khiến khí bao trùm toàn thể hòa tan vào giọt bất hoại ở tim và vì vậy tạo điều kiện cho việc đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng. Tuy nhiên, một hành giả mật tông đủ tiêu chuẩn không chấp nhận mudra hành động có thể kinh nghiệm tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng trong quá trình trải nghiệm tịnh quang của cái chết.

    Một khi tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng đã đạt được trước khi chết, thì chắc chắn thiền giả sẽ đạt được giác ngộ trong kiếp đó. Khi một thiền giả như vậy xuất hiện từ một khóa tu trong đó tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng được thành tựu, người đó sẽ tự động đạt được thân huyễn bất tịnh. Thứ này được gọi là “bất tịnh” vì hành giả vẫn chưa từ bỏ những chướng ngại để giải thoát. Điều này là vì người đó vẫn chưa đạt được những con đường cao hơn của mật tông, là con đường trực tiếp chứng ngộ tính không bằng tâm của đại lạc tự nhiên. Nếu một hành giả đã đạt được thân huyễn bất tịnh thiền về tính không liên tục, cuối cùng người đó sẽ đạt được tịnh quang nghĩa, và đồng thời đạt được những con đường cao hơn của mật tông. Khi thiền giả này thành tựu nhập định về tịnh quang nghĩa, người đó sẽ tự động đạt được thân huyễn thanh tịnh, sau đó sẽ chuyển hóa thành Sắc Thân của một vị Phật giác ngộ trọn vẹn. Theo cách này, một thiền giả đã đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng trước khi chết chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ trong kiếp đó.

    Nếu tâm cô lập cỉa tịnh quang ví dụ tối thượng đạt được lúc chết, thì chính tịnh quang của cái chết sẽ chuyển thành tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng, và thay vì đi vào trạng thái trung ấm, thiền giả sẽ đạt được thân huyễn. Chính nhờ thân huyễn này mà đạt được giác ngộ. Đôi khi người ta nói rằng trong trường hợp này, thiền giả trở thành một vị Phật ở trạng thái trung ấm, hoặc với một thân trung ấm, nhưng trên thực tế, thân của thiền giả như vậy không phải là một thân trung ấm thực sự vì người đó đã đạt được thân huyễn, đó là thân của một thần bản tôn.

    Theo mật tông, dấu hiệu thứ tam khi chết, tịnh quang của cái chết, là pháp thân nền tảng, thân trung ấm theo sau là báu thân nền tảng, còn thân mà sự tái sinh được thực hiện là hóa thân nền tảng. Ba thứ này không phải là Pháp Thân, Báu Thân, Hóa Thân thực sự của một vị Phật, mà chỉ là những nền tảng được thanh lọc trong các giai đoạn phát sinh và thành tựu của thực hành mật tông, và nhờ đó chuyển hóa thành ba thân kết quả của một vị Phật.

    Ba thân nền tảng được thanh lọc trực tiếp bằng thiền định giai đoạn thành tựu. Tịnh quang của cái chết được thanh lọc bởi tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng. Khi tâm cô lập này thiền về tính không, nó trở thành Đại Ấn, là sự hợp nhất của lạc và không. Bằng cách kinh nghiệm bản tính đại lạc của tịnh quang và thiền về tính không với tâm cô lập này, thiền giả sẽ tránh được trải nghiệm cái chết. Vì thiền giả đã thanh lọc tịnh quang của cái chết theo cách này, anh ta cũng sẽ tránh được trải nghiệm trạng thái trung ấm, tâm trí và thân thể có căn nguyên trọng yếu là tịnh quang của cái chết và khí mà nó gắn kết, và thay vào đó sẽ đạt được thân huyễn. Tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng trở thành tâm của thân huyễn và khí mà nó gắn kết trở thành chính thân huyễn.

    Một thiền giả có thể thanh lọc tịnh quang của cái chết và trạng thái trung ấm theo cách này sẽ tự nhiên có thể thanh lọc sự tái sinh, và chuyển hóa nó thành con đường tâm linh. Chìa khóa để thanh lọc ba nền tảng này là đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng. Tâm cô lập này giống như thần dược giả kim có thể biến kim loại thường thành vàng, ở chỗ nó chuyển hóa cái chết, thành trạng thái trung ấm và tái sinh thành ba thân thần linh của một vị Phật giác ngộ trọn vẹn.

    Trong cả hai giai đoạn phát sinh và thành tựu của mật tông, điều quan trọng là cần hiểu rõ ba điều: các nền tảng được thanh lọc, cái gì thanh lọc các nền tảng này và kết quả của sự thanh lọc này. Các nền tảng được thanh lọc là như nhau trong cả hai giai đoạn” pháp thân nền tảng (cái chết), báu thân nền tảng (trạng thái trung ấm), và hóa thân nền tảng (tái sinh). Tuy nhiên, phương tiện thanh lọc chúng lại khác nhau ở mỗi giai đoạn. Trong giai đoạn thành tựu, tịnh quang của cái chết được thanh lọc trực tiếp bởi tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng, trạng thái trung ấm bởi thân huyễn, và tái sinh bằng yoga hóa thân của thân huyễn. Trong thực hành giai đoạn phát sinh, ba nền tảng này được thanh lọc bằng ba yoga được gọi là “đưa ba thân vào con đường”. Ba yoga này thanh lọc các nền tảng của chúng gián tiếp, do đó các thực hành giai đoạn phát sinh giống như một buổi diễn tập cho các quá trình thanh lọc thực sự diễn ra trong giai đoạn thành tựu. Nếu thiền giai đoạn phát sinh của chúng ta thành công thì thiền giai đoạn thành tựu cũng sẽ rất mạnh mẽ, và khi thành công thì ba nền tảng có thể được thanh lọc mà không gặp nhiều khó khăn. Kết quả của quá trình thanh lọc này là ba thân của một vị Phật: Pháp Thân kết quả, Báu Thân kết quả, Hóa thân kết quả.

    Bây giờ, khi đã hoàn tất thảo luận về cách thức các luồng khí đi vào, lưu lại và hòa tan trong trung mạch, chúng ta có thể tiến hành giải thích về phương pháp tạo ra bốn hỷ thông qua việc thực hành nội hỏa.

    Bằng cách thiền liên tục trong một khoảng thời gian liên tục về chữ A ngắn bên trong trung tâm luân xa rốn, và bằng cách hòa trộn tâm trí của chúng ta hoàn toàn với đối tượng thiền định này, ta sẽ có thể khiến các luồng khí đi vào, trụ lại và hòa tan trong trung mạch như đã mô tả trước đây. Như một kết quả của việc các luồng khí này đi vào cánh cửa luân xa rốn, khí hướng xuống, nằm ngay bên dưới luân xa này, sẽ di chuyển lên trên. Đến lượt nó sẽ đốt cháy nội hỏa, được quán tưởng là chữ A ngắn, và khiến nó bùng cháy. Nhiệt sinh ra do nội hỏa bùng lên sẽ làm tan chảy giọt trắng trong luân xa đỉnh đầu, được quán là chữ HAM ngược, và nó sẽ bắt đầu chảy xuống qua trung mạch. Chính chuyển động của giọt trắng nhẹ nhàng chảy xuống trung mạch này tạo ra kinh nghiệm về hỷ, hoặc lạc.

    Khi giọt chảy xuống trung tâm luân xa họng, chúng ta kinh nghiệm hỷ đầu tiên, được gọi đơn giản là “hỷ”. Bằng cách làm cho sự chú tâm thiền định của vững chắc vào chữ OM được quán ở trung tâm cổ họng, chúng ta có thể kinh nghiệm hỷ đầu tiên này trong một khoảng thời gian kéo dài. Giai đoạn đầu tiên của hỷ sẽ được trải nghiệm miễn là giọt trắng không chảy đi khỏi luân xa họng.

    Sau khi ở lại trong luân xa này một thời gian, giọt trắng sẽ được phép tiếp tục chảy xuống trung mạch. Khi nó chảy xuống trung tâm của luân xa tim, ta sẽ kinh nghiệm hỷ thứ hai trong bốn hỷ. Trạng thái này được gọi là “tối thượng hỷ” vì niềm vui được trải nghiệm tại thời điểm này lớn hơn hỷ đầu tiên. Một lần nữa, ta có thể duy trì lạc thọ này bằng cách tập trung vào chữ HUM ở trung tâm tim.

    Sau khi duy trì tối thượng hỷ một thời gian, ta nên để giọt trắng chảy xuống trung tâm luân xa rốn. Khi việc này xảy ra, ta sẽ kinh nghiệm hỷ thứ ba và thâm chí còn lớn hơn, được gọi là “phi thường hỷ”. Nếu thiền nội hỏa thành công, ta sẽ có thể duy trì trải nghiệm phi thường hỷ này lâu như ta mong muốn.

    Khi giọt trắng rời khỏi luân xa rốn, nó chảy xuống trung mạch cho đến khi chạm đến đỉnh của cơ quan sinh dục. Việc này tạo ra hỷ thứ tư trong bốn hỷ, gọi là “đại hỷ tự nhiên”, là một giai đoạn của đại hỷ tự nhiên. Lạc thọ này vượt trội ba hỷ trước đây và có thể duy trì trong thời gian dài. Ở các chúng sinh bình thường, khi giọt trắng chạm đến đỉnh cơ quan sinh dục, nó sẽ nhanh chóng bị giải phóng và sức mạnh của kinh nghiệm hỷ lạc sẽ sớm giảm đi. Tuy nhiên, đối với một thiền giả mật tông thành tựu, điều này không xảy ra. Bởi vì Yogi đã khiến các luồng khí đi vào, trụ lại và hòa tan trong trung mạch và đã kiểm soát được luồng khí hướng xuống, giọt trắng sẽ chỉ chảy trong trung mạch và do vậy có thể được giữ ở đầu của cơ quan sinh dục mà không bị giải phóng.
  5. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Khi đạt được lạc thọ này, ta nên sử dụng tâm trí của đại lạc tự nhiên để thiền về tính không, sự thiếu vắng tồn tại cố hữu. Sau ki duy trì kinh nghiệm này một thời gian, ta nên đảo ngược dòng chảy của giọt trắng và khiến nó di chuyển lên trên qua trung mạch. Cho đến khi quen với thiền đi xuống này, chúng ta sẽ cần rất nhiều sự tập trung để thực hiện thiền đảo ngược đi lên. Tuy nhiên, với thực hành, ta có thể đảo ngược dòng chảy của giọt trắng một cách khá tự nhiên và không tốn nhiều công sức.

    Khi giọt trắng lên trên, ta sẽ trải nghiệm bốn hỷ càng mạnh mẽ. Bởi vì giọt trắng bâ giờ đang chảy lên trên, chúng được gọi là “bốn hỷ theo thứ tự ngược”. Mỗi trạng thái này là một giai đoạn của đại lạc tự nhiên và nên được kết hợp với thiền về tính không.

    Hỷ thứ nhất của trật tự đảo ngược phát sinh khi giọt trắng trôi chảy lên luân xa rốn. Khi nó chảy lên tim, ta kinh nghiệm tối thượng hỷ của thứ tự đảo ngược, rồi khi nó chảy lên cổ họng, ta trải nghiệm phi thường hỷ. Cuối cùng, khi giọt trắng chảy lên trung tâm của luân xa đỉnh đầu, ta kinh nghiệm đại hỷ tự nhiên của thứ tự ngược. Đây là kinh nghiệm cao nhất trong toàn bộ trải nghiệm về hỷ lạc. Khi nó xảy ra, ta được thấm nhuần bởi hỷ lạc lớn lao và ta có thể duy trì trải nghiệm này trong thời gian rất dài. Trên thực tế, ta sẽ tiếp tục trải nghiệm sung sướng này không ngừng, ngay cả khi ta không còn hành thiền nữa. Thực hành trải nghiệm các giai đoạn của đại lạc tự nhiên này và sử dụng những tâm trí này để thiền về tính không chính là bản chất của giai đoạn thành tựu, và chúng ta có thể dành toàn bộ cuộc đời mình để tham gia vào nó một cách có ích.

    Như đã đề cập từ trước, Kinh và Mật sử dụng các cấp độ tâm trí khác nhau để thiền về đối tượng không. Tâm trí mạnh mẽ nhất trong số các tâm như vậy là tâm của đại lạc tự nhiên. Nó có sức mạnh lớn hơn nhiều để phá hủy các chướng ngại đối với sự giải thoát và toàn tri hơn bất cứ tâm nào khác vì nó hoàn toàn thoát khỏi những suy nghĩ khái niệm thô kệch và các hiện tượng nhị nguyên. Các khái niệm thô kệch không thể làm nhiễu loạn tâm thức của đại lạc tự nhiên vì những luồng khí hỗ trợ những khái niệm như vậy đã bị tan biến trong trung mạch và vì vậy ngừng hoạt động. Vì không còn nguy cơ can thiệp từ những khái niệm thô kệch này nữa nên chúng ta có thể thiền về tính không với sức mạnh và sự sáng suốt to lớn. Tâm trí chủ thể và tính không đối tượng hòa trộn không thể phân biệt được như nước hòa trộn với nước.

    Ngoài việc là phương pháp tối thượng để loại trừ các chướng ngại cho sự giải thoát và toàn tri, thiền định này cũng là phương pháp tối thượng để thành tựu các thân linh thiêng của một vị Phật. Tâm đại lạc tự nhiên là nguyên nhân cốt lõi cho Pháp Thân Phật, còn luồng khí mà nó cưỡi lên là nguyên nhân cốt lõi cho Sắc Thân Phật. Từ đó, ta có thể hiểu rằng thiền về đại lạc tự nhiên cũng là phương pháp tốt nhất để hoàn thành hai tích tập trí tuệ và công đức, tương ứng là nguyên nhân của Pháp Thân và Sắc Thân.

    Một thiền giả thành công trong các phương pháp này không cần tham gia vào bất kỳ hoạt động tinh thần nào khác. Đối với những người đủ may mắn để thành thạo các phương pháp như vậy, mọi hành động hàng ngày của họ, dù là đi bộ, ăn uống hay bất cứ việc gì, đều giúp hoàn thành các bộ tích tập trí tuệ và công đức. Mật tông được gọi là “con đường nhanh” vì một thực hành duy nhất, thiền về đại lạc tự nhiên và tính không, cắt đứt hai chướng ngại và hoàn thành hai bộ tích tập.

    Một số người có quan điểm hoàn toàn sai lầm về mật tông. Chẳng có bất kỳ kinh nghiệm nào về đại lac và tính không, họ vẫn tuyên bố: “Tôi là một Yogi mật tông”, rồi sau đó uống rượu, hút thuốc lá, sử dụng ma túy, tranh cãi, tham gia vào hoạt động ******** sai trái, vân vân. Việc gắn liền với hành vi như vậy không nên được coi là giống như đi theo con đường mật tông. Rốt cuộc, những hành động như vậy có thể được thực hiện bởi bất cứ ai. Những người có mong muốn trong sáng trở thành những yogi mật tông thực sự thay vào đó nên nỗ lực thật nhiều để làm chủ thiền định vừa được mô tả, và nên làm như vậy với động lực bồ đề tâm hoàn hảo.

    Nếu kinh nghiệm bốn hỷ được phân tích chi tiết hơn, có thể phân ra thành mười sáu hỷ theo thứ tự thuận và mười sáu hỷ theo thứ tự ngược. Ví dụ, khi giọt trắng rơi xuống một phần tư đường giữa đỉnh đầu và luân xa cổ họng, thì phần đầu tiên của hỷ thứ nhất được trải nghiệm. Mỗi hỷ trong bốn hỷ cũng được chia thành bốn phần có cường độ tăng dần, do đó tạo thành tổng cộng ba mươi hai giai đoạn của kinh nghiệm hỷ lạc.

    Trong khi an trú trong đại hỷ tự nhiên của thứ tự đảo ngược, tâm nguyên thủy của chúng ta sẽ hoàn toàn chuyển hóa thành bản tính của đại lạc tự nhiên. Một tâm thức như vậy vừa là tâm vi tế vừa là tâm trí nguyên thủy. Theo Kinh, hỷ chỉ có thể là một yếu tố tinh thần chứ không phải là tâm trí nguyên thủy, nhưng trong Mật thì không phải vậy. Ở đây có một tâm trí của đại lạc tự nhiên cũng là tâm trí nguyên thủy.

    Nguyên nhân chính của thân huyễn là khí rất vi tế do tâm rất vi tế của tịnh quang thiền về tính không tạo ra. Khi thiền giả xuất quan từ khóa tu mà tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng đã thành tựu, người đó sẽ đắc được một thân không giống với thân vật lý trước đó của mình. Nó sẽ giống về ngoại hình với thân của Thần bản tôn của giai đoạn phát sinh, ngoài trừ việc nó sẽ có màu trắng. Một hình tướng như vậy chỉ có thể được nhận thức bởi một người đã đạt được thân huyễn. Về mặt này thì thân huyễn tương tự như một thân giấc mơ ở chỗ cả thân giấc mơ và thân huyễn đều phát sinh từ khí rất vi tế. Mật điển Bí Mật Tập Hội nói rằng thân giấc mơ và phép ẩn dụ tốt nhất cho thân huyễn và chứng minh rằng có thể đạt được điều đó.

    Để đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng, chúng ta phải thành tựu công năng thiền định về các mạch, khí, giọt. Hơn nữa, để đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng trước khi tịnh quang của cái chết xuất hiện, cần phải chấp nhận một mudra hành động có phẩm chất. Lama Je Tsongkhapa đã không chấp nhận một ấn hành động vì ông quan tâm đến phúc lợi của các vị chức sắc theo ông. Mặc dù ông đã ở giai đoạn có thể thiền với ấn hành động mà không tích lũy chút tiêu cực nào, mặc dù là một nhà sư nhưng ông đã không làm như vậy. Tại sao không? Ông muốn bảo vệ những đệ tự thiếu kiên nhẫn trong tương lai, những người nghĩ rằng họ có thể noi gương ông mà không đủ điều kiện, sẽ bị cám dỗ để lấy một người phối ngẫu trước thời hạn và do đó sẽ tạo ra nguyên nhân cho tái sinh thấp hơn thay vì giác ngộ.

    Je Tsongkhapa được ca ngợi rộng rãi trong suốt cuộc đời và sau đó bởi nhiều Yogi vĩ đại vì công cuộc trình bày tường minh và độc đáo của ông về các thực hành mật tông. Ông đặc biệt nổi tiếng vì những lời giải thích của mình về phương pháp để đạt được thân huyễn. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã chứng minh cách đạt được bốn không của tâm cô lập thông qua sức mạnh của pháp trì tụng kim cương trong mật điển Bí Mật Tập Hội. Sau đó, vào ngày 25 của tháng thứ 10 theo lịch Tây Tạng, khi sắp rời bỏ thân xác thô của mình, ông đã đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng bằng cách hội nhập tịnh quang con và mẹ. Khi xuất khỏi thiền định đó, ông đã đạt được thân huyễn mà nhờ nó ông đạt giác ngộ.

    Trên thực tế, Je Tsongkhapa đã là đức Phật Văn Thù giác ngộ viên mãn. Để mang lại lợi ích cho người khác, đức Văn Thù xuất hiện dưới nhiều hình tướng: giác và phàm, tăng và tục. Trong trường hợp này, ông xuất hiện như một vị thầy đáng kính, người đã chứng minh con đường Kinh và Mật thanh tịnh để đạt đến giác ngộ viên mãn trong cuộc sống và công việc của mình và trao cho các đệ tử may mắn của ông một tấm gương tuyệt vời để noi theo. Những hành động của các bậc giác ngộ như đức Văn Thù vượt ngoài phạm vi tâm trí của những chúng sinh bình thường.

    Nói chung, có bốn hỷ của giai đoạn phát sinh và bốn của giai đoạn thành tựu. Để đạt được cái trước, không cần phải đưa khí vào trung mạch vì bốn hỷ này chủ yếu đạt được thông qua sức mạnh của sự chú tâm thiền định. Đối với cái sau, chúng là kết quả của sự hòa tan và trôi chảy của giọt trắng bên trong trung mạch. Chúng ta nên tập dượt cho kinh nghiệm này bằng cách thực hành bốn hỷ của giai đoạn phát sinh như được mô tả trong các mật điển Bí Mật Tập Hội, Hung Nộ Tôn, Kim Cương Du Già Nữ, vân vân, và bằng cách làm theo hướng dẫn của một bậc thầy mật tông đủ tiêu chuẩn.

    Bốn hỷ của giai đoạn thành tựu được thực hành kết hợp với thiền nội hỏa và các phương pháp khác như tụng niệm kim cương. Đầu tiên, chúng ta nên thực hiện tám giai đoạn thiền nội hỏa như đã mô tả từ trước. Nhiệt sinh ra từ việc này sẽ làm tan chảy giọt trắng ở đỉnh đầu, chảy xuống trung mạch từ đỉnh đầu đến cổ họng, từ cổ họng đến tim, từ tim đến rốn, rồi từ rốn đến đầu cơ quan sinh dục. Điều này sẽ mang lại kinh nghiệm về đại hỷ tự nhiên, chúng ta nên duy trì trải nghiệm này trong khi thiền về tính không. Sau đó, ta nên tạo ra bốn hỷ theo thứ tự ngược lại, tất cả đều là các giai đoạn của đại lạc tự nhiên và do đó tiếp tục thiền về tính không với tâm cực lạc tối thượng. Như vậy là kết thúc phần giải thích về bốn hỷ.
  6. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    CHÍN HÒA NHẬP



    HAI ẤN (MUDRA)


    GIẢI THÍCH VỀ CHÍN HÒA NHẬP


    Chín hòa nhập là những phương pháp chính để đưa cái chết, trạng thái trung gian và tái sinh vào con đường của ba thân Phật. Chúng được giải thích chi tiết trong các văn bản về mật điển Guhyashamaja, cả Long Thọ và các đệ tử của ông là Thánh Thiên đã viết những bình luận rõ ràng về chúng. Những hướng dẫn này sau đó đã được mang từ Ấn Độ đến Tây Tạng và đã được các bậc thầy Tây Tạng thực hành không ngừng cho đến ngày nay.

    Chín hòa nhập là một thực hành thiết yếu của thiền định giai đoạn thành tựu và không thể thể đạt được Phật quả trong một đời nếu thiếu chúng. Cả Marpa và Milarepa đều đặc biệt ca ngợi thực hành này, còn thiền giả vĩ đại Khadrub Rinpoche đã nói rằng ngay cả khi một người không đạt được kinh nghiệm hoàn chỉnh về chín hòa nhập này, thì một kho công đức lớn vẫn có thể được tích lũy chỉ thông qua việc đạt được sự hiểu biết tri thức về chúng. Tóm lại tất cả các thiền nhân đủ tiêu chuẩn của giai đoạn thành tựu mật tông đều dựa vào thực hành chín hòa nhập. Các hướng dẫn sau đây đã được trích dẫn từ những lời dạy của Kim Cang Trì có trong mật điển Bí Mật Tập Hội, từ đó chúng được đưa vào các thực hành mật điển Vô Thượng Yoga khác.

    Chín hòa nhập được giải thích theo ba phần.

    1. Giải thích về hòa nhập trong lúc tỉnh

    2. Giải thích về hòa nhập trong lúc ngủ

    3. Giải thích về hòa nhập trong khi chết



    GIẢI THÍCH VỀ HÒA NHẬP TRONG LÚC THỨC


    Mục này có ba phần:

    1. Hòa nhập với Pháp Thân lúc thức

    2. Hòa nhập với Báu Thân lúc thức

    3. Hòa nhập với Hóa Thân lúc thức


    Hòa nhập với Pháp Thân lúc thức


    Đầu tiên trong chín hòa nhập là hội nhập với Pháp Thân lúc thức. Như đã giải thích, thông qua sức mạnh của thiền nội hỏa, các luồng khí được tạo ra để đi vào, trụ lại và hòa tan trong trung mạch và kết quả là chúng ta kinh nghiệm tám dấu hiệu từ hình dạng giống như ảo ảnh đến tịnh quang. Sau đó, ta chuyển hóa tâm trí của tịnh quang thành con đường bằng cách thiền về tính không, đây là cách tịnh quang được hội nhập với Pháp Thân. Mặc dù thiền này được gọi là “Hòa nhập với Pháp Thân trong lúc thức”, nhưng người thiền chỉ quán tưởng rằng tâm trí tịnh quang của mình là Pháp Thân thực sự, không có Pháp Thân thực sự nào vào thời điểm này. Theo mật tông, có ba loại pháp thân: pháp thân nền tảng, pháp thân con đường và pháp thân kết quả. Hai loại đầu tiên không phải là pháp thân thực sự nhưng được gọi là pháp thân vì thực hành pháp thân con đường trên cơ sở pháp thân nền tảng dẫn đến việc đạt được pháp thân kết quả, thực sự.

    Thực hành hòa nhập với pháp thân lúc thức được giải thích sau đây. Như trước, đối tượng thiền ban đầu là chữ A ngắn ở trung tâm luân xa rốn. Chúng ta tập trung vào đối tượng này cho đến khí trải nghiệm tám dấu hiệu. Trong suốt quá trình tiến triển tám dấu hiệu, điều rất quan trọng là không được quên tính không, ví nếu chúng ta không nhớ tính không bằng tâm thô của mình thì sẽ không thể nhận ra nó bằng tâm vi tế. Vì vậy, khi trải nghiệm hình dạng giống như ảo ảnh, ta nhớ rằng hình ảnh này không tồn tại từ phía riêng của nó mà chỉ đơn thuần là một hình ảnh đối với nhận thức của chúng ta. Ta sử dụng cùng một loại chánh niệm trong suốt ba dấu hiệu tiếp theo: hình dạng như khói, như đom đóm lấp lánh, và như ngọn nến. Sau khi tất cả những thứ này được kinh nghiệm, chánh niệm thô của ta sẽ biến mất. Trong lần xuất hiện tiếp theo, tâm có hình dạng trắng, là thứ đầu tiên trong bốn không, chỉ có chánh niệm vi tế mới hoạt động.

    Trong tâm của hình dạng màu trắng, ta sẽ chỉ nhận thức được một hình tướng giống như bầu trời trống rỗng tràn nhập ánh sáng trắng rực rỡ của trăng tròn mùa thu, và ta thiền rằng tính không của hình tướng này là sự thiếu vắng của tồn tại cố hữu. Do tâm thời điểm này là một tâm vi tế, nên ban đầu sẽ khó thiết lập sự thiếu vắng tồn tại cố hữu thông qua sức mạnh lý luận logic, tuy nhiên, khi trở nên quen thuộc hơn với kinh nghiệm tâm trí vi tế, ta sẽ có thể sử dụng lý luận logic để thiết lập tính không, ngay cả trong tâm trí có hình dạng trắng.

    Từ tâm của hình dạng màu trắng, ta chuyển sang tâm tăng cường màu đỏ, nhận thức một hình dạng giống như bầu trời trống rỗng tràn ngập ánh sáng đỏ mặt trời. Như trước, ta duy trì chánh niệm về tính không và thiền rằng tính không của cái không thứ hai này là sự thiếu vắng tồn tại cố hữu. Sau đó, khi tâm gần đạt được màu đen phát sinh, nhận thức một hình dạng giống như bầu trời trống rỗng tràn ngập màu đen, ta nên duy trì chánh niệm về tính không cho đến khi trải nghiệm cảm giác ngất ngây sâu sắc của tâm vi tế này. Trong trạng thái ngất ngây này, ta sẽ tạm thời mất chánh niệm về tính không vì lúc này không có bất cứ hoạt động ý thức nào.

    Sau khi tâm đen gần đạt được chấm dứt, tâm cực kỳ vi tế của tịnh quang, tâm vi tế nhất trong tất cả các tâm, sẽ phát sinh. Tâm cực vi tế này sẽ nhận thức một hình dạng giống như bầu trời mùa thu trống rỗng lúc bình minh được bao trùm bởi ánh sáng trong trẻo và rực rỡ. Với tâm cực vi tế của tịnh quang này, ta nên thiền rằng tính không của tịnh quang là sự thiếu vắng tồn tại cố hữu. Khả năng nhớ về tính không vào thời điểm này phụ thuộc vào việc có thể nhớ về tính không trong những cái không trước, ngoài trừ khoảnh khắc ngất ngây sâu sắc của tâm gần đạt được màu đen, và nhớ về tính không trong hình dạng của những tâm vi tế phụ thuộc vào việc nhớ về tính không với tâm thô trước khi nó tan biến. Vì vậy, ngay từ khi bắt đầu hình dạng giống như ảo ảnh, điều quan trọng là không được quên tính không.

    Khi tâm rất vi tế của tịnh quang thiền về tính không và giữ sự hợp nhất của tịnh quang và tính không, giống như phương diện pháp thân, ta đang thực hành hòa nhập đầu tiên trong ba hòa nhập, hòa nhập với pháp thân trong lúc thức. Trên cơ sở này, ta nên phát triển lòng tự hào thiêng liêng là pháp thân thực sự của một vị Phật, và theo cách này, ta thực hiện sự chứng ngộ của mình về pháp thân tuyệt đối bất hoại. Chỉ thực hiện điều này một hoặc hai lần là không đủ, cần thực hành liên tục cho đến khi ta đạt được chứng ngộ ổn định.

    Như đã chỉ ra từ trước, trong giai đoạn phát sinh của thiền mật tông, chúng ta đưa cái chết vào chon đường của pháp thân. Mục đích của việc này là để chuẩn bị và tạo điều kiện cho sự hòa nhập với pháp thân mà ta thực hành trong giai đoạn thành tựu. Việc hòa nhập với pháp thân trong khi thức sẽ tạp điều kiện để hòa nhập pháp thân trong lúc ngủ, và đến lượt nó lại tạo điều kiện để hòa nhập với pháp thân trong khi chết. Khi tâm cực vi tế của tịnh quang thiền về tính không, ta đã đạt được chứng ngộ đầu tiên về Đại Ấn Kim Cương Thừa.
  7. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Hòa nhập với Báu Thân trong lúc thức


    Bằng cách phát khởi niềm tự hào thần thánh của việc được là pháp thân, với một tâm trí thoát khỏi mọi hình tướng nhị nguyên thô thiển, ta làm cho sự chứng ngộ của mình về pháp thân trở nên bất hoại. Tâm tịnh quang này có một khía cạnh tương tự như tâm tịnh quang của cái chết. Như đã giải thích, sau khi trải nghiệm tịnh quang cái chết, chúng sinh bình thường sẽ có một thân trung ấm, nhưng người tu thiền thành tựu sẽ có thân của Thần bản tôn của mình thay vào đó. Vì vậy, khi thực hành hòa nhập thứ hai trong chín, ta nên thiền rằng mình xuất hiện từ trạng thái tịnh quang của tính không hay pháp thân, dưới hình dạng Thần bản tôn của ta là Heruka, thì với niềm tự hào thánh linh, ta nghĩ rằng mình đã xuất hiện dưới hình dạng của ngài. Tuy nhiên, thay vì có màu xanh lam, thân chúng ta có màu trắng và ta ôm lấy một Vajravahari màu trắng. Ta thiền rằng khí rất vi tế do tâm tịnh quang tạo ra xuất hiện dưới hình dạng thân thể Heruka và rằng chính tâm tịnh quang rất vi tế đó là tâm Heruka. Sau đó, với lòng tự tôn thần tánh, ta thiền rằng mình là Báu Thân thực sự của Phật Heruka.

    Thực hành theo cách này tạo ra nguyên nhân để chúng ta đạt được một thân huyễn thực sự dưới hình dáng Bản tôn riêng của ta trong tương lai. Một thân huyễn như vậy không phải là thứ mà mọi người đều có thể nhìn thấy. Mặc dù nó là một thân thể thực sự, nhưng chỉ những người nào đã đắc được thân huyễn mới có thể nhìn thấy nó. Nói chung, thân huyễn này được gọi là “báu thân con đường”. Giống như trường hợp của pháp thân, theo mật tông, có ba loại báu thân: báu thân nền tảng, báu thân con đường và báu thân kết quả, một lần nữa, hai loại đầu tiên chỉ là báu thân trên danh nghĩa. Sau khi đạt được thân huyễn, hay báu thân con đường, thiền nhân liên tục thực hành và cuối cùng trở thành một vị Phật, nhờ đó đạt được báu thân kết qua, tức là thân thực sự của một vị Phật.

    Tóm lại, khi lưu xuất từ tịnh quang trong thân tướng trắng của bản tôn riêng, chúng ta nên tập trung vào thân thể này và phát triển niềm tự hào thiêng liêng nghĩ rằng: “Giờ đây mình là Báu Thân thực sự”. Đây là thực hành hòa nhập với Báu Thân trong lúc thức. Thực hành như vậy tạo điều kiện cho việc hòa nhập với báu thân trong khi ngủ, đến lượt nó tạo điều kiện để hòa nhập báu thân trong khi chết. Tất cả những phần này đã được thực hành trước trong giai đoạn phát sinh khi chúng ta đưa trạng thái trung ấm vào con đường của Báu Thân và do đó tập dượt và tạo điều kiện cho sự hòa nhập với Báu Thân trong giai đoạn thành tựu.

    HÒA NHẬP VỚI HÓA THÂN TRONG LÚC THỨC


    Lúc này chúng ta vẫn còn trong hình dáng của Báu Thân màu trắng của Thần bản tôn riêng của mình. Chúng ta hiểu rằng thân này và thân vật lý bình thường của mình là hoàn toàn khác nhau và sau đó nghĩ rằng:

    Nếu tôi vẫn ở trong trạng thái này, chúng sinh bình thường sẽ không thể nhìn thấy rôi và do đó tôi sẽ không thể giúp họ vượt qua đau khổ và đạt được Phật quả.

    Với ý nghĩ này và được thúc đẩy bởi bồ đề tâm, chúng ta quyết tâm mạnh mẽ để nhận một Hóa Thân mà chúng sinh bình thường có thể nhận biết để ta có thể mạng lại lợi ích tối đa cho người khác.

    Trước khi thực hành các pháp hòa nhập trong lúc thức, ta đã phát sinh bản thân mình trong diện mạo của Thần bản tôn. Thứ này được gọi là “thể hứa nguyện”. Ví dụ, nếu vị thần bản tôn riêng của ta là Heruka, thì thể hứa nguyện là bản thân chúng ta trong hình dáng Heruka, màu xanh lam với một mặt và hai tay. Một thể hứa nguyện như vậy hiện diện trong suốt quá trình thiền định giai đoạn thành tựu, nhưng nó không còn là đối tượng của thiền định trong khi ta đang thực hành các pháp hòa nhập với Pháp Thân và Báu Thân. Điều này tương tự như cách mà hình dáng cơ thể bình thường của chúng ta chấm dứt khi ta ngủ và mơ, vì mặc dù cơ thể vật lý vẫn còn nhưng chúng ta không còn nhận thức được nó nữa.

    Bây giờ, sau khi hòa nhập với Pháp Thân, ta đã phát sinh như thân huyễn dưới hình dạng Heruka trắng. Heruka trắng này khác với thân thể hứa nguyện màu xanh lam theo cách tương tự như thân trong giấc mơ khác với thân vật lý thô. Khi thực hành hòa nhập với Báu Thân, ta phát triển lòng tự tôn thiêng liêng mạnh lẽ khi là Báu Thân thực sự của Heruka. Heruka trắng này là thể trí tuệ. Như kết quả của bồ đề tâm mạnh mẽ, ta quyết định xuất sinh dưới hình dáng của một Hóa Thân vì lợi ích người khác, ta thiền rằng Heruka trắng này đi vào thân thể hứa nguyện thông qua đỉnh đầu của anh ta. Điều này tương tự như cách mà khi thức dậy sau giấc mơ, thân trong mơ của chúng ta nhập lại vào thân vật lý thô. Tại thời điểm này trong quá trình thiền, Heruka trắng vẫn ở trong tim của Hóa Thân, Heruka xanh lam, như một thể trí tuệ. Tập trung vào thân Heruka xanh, sau đó chúng ta phát triển lòng tự tôn thần thánh khi là Hóa Thân thực sự. Đây là thực hành hòa nhập với Hóa Thân trong lúc thức.
  8. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    GIẢI THÍCH VỀ HÒA NHẬP TRONG LÚC NGỦ


    Mục này có ba phần:

    1. Hòa nhập với Pháp Thân trong lúc ngủ

    2. Hòa nhập với Báu Thân trong lúc ngủ

    3. Hòa nhập với Hóa Thân trong lúc ngủ


    HÒA NHẬP VỚI PHÁP THÂN TRONG LÚC NGỦ


    Khi chúng sinh bình thường rơi vào giấc ngủ, họ kinh nghiệm tịnh quang của giấc ngủ. Thiền giả mật tông cố gắng hòa nhập tịnh quang giấc ngủ này với Pháp Thân. Tuy nhiên việc này chỉ có thể đạt được bởi những người đã có kinh nghiệm trước đó về bốn trạng thái không bằng cách thực hành các pháp hòa nhập trong khi thức như đã mô tả ở trên. Do đó, thiền như vậy sẽ chỉ thành công nếu chúng ta có thể chủ động khiến các luồng khí của mình đi vào, trụ lại và hòa tan trong trung mạch.

    Khi thực hành các pháp hòa nhập trong lúc ngủ, ta nên thiền nội hỏa ngay trước khi chìm vào giấc ngủ. Tại thời điểm này, ta không cần phải ngồi trong tư thế thiền, có thể thực hành nội hỏa trong khi nằm ở tư thế ngủ bình thường. Tuy nhiên, nếu có thể, tốt nhất là ngủ ở thế sư tử, nằm nghiêng bên phải với má phải tựa vào lòng bàn tay phải, chân duỗi thẳng với chân trái tựa vào chân phải, cánh tay trái nằm dọc theo đùi trái. Đây là tư thế mà Phật Thích Ca đã nhập diệt, và là tư thế tốt nhất để thực hiện bất cứ khi nào chúng ta đi ngủ.

    Giống như thực hành nội hỏa thông thường, đối tượng của thiền là chữ A ngắn trong không bào bên trong trung tâm luân xa rốn. Nếu quen với việc khiến các luồng khí đi vào, trụ lại rồi hòa tan bên trong trung mạch vào lúc thức, ta sẽ có thể làm như vậy trong lúc ngủ mà không gặp nhiều khó khăn. Ta thực hành thiền nội hỏa cho đến khi nhận thức được hình dạng giống như ảo ảnh của giấc ngủ. Trong khi chìm vào giấc ngủ, ta phải có khả năng, thông qua sức mạnh của chánh niệm, nhận diện từng hình dạng khi chúng xuất hiện. Ta cũng phải nhớ rằng không có tồn tại cố hữu ngay từ đầu của hình dạng giống như ảo ảnh cho đến và bao gồm cái không thứ tư, đó chính là tịnh quang. Nghĩ rằng tám dấu hiệu này chỉ là những hình dạng được nhận thức bởi tâm nguyên thủy của chúng ta và chúng trống rỗng, không có sự tồn tại đích thực. Khi, trong dấu hiệu thứ tám, tâm tịnh quang rất vi tế của ta thiền về tính không, kinh nghiệm về tính không của ta sẽ trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Vì tâm rất vi tế này có thể hòa hợp với đối tượng của nó như nước hòa trộn với nước. Khi đạt đến điểm này trong quá trình thực hành, ta nên thiền rằng tính bất nhị của tâm và tính không của chúng đã trở nên hoàn toàn bất hoại, trên cơ sở này tạo ra niềm tự hào thiêng liêng là Pháp Thân của một vị Phật. Đây là thực hành hòa nhập với Pháp thân trong lúc ngủ.

    Để thành công trong thiền này, ta cần có khả năng thực hành hai phương pháp sâu sắc: (1) khiến các luồng khí đi vào, trụ lại và hòa tan trong trung mạch lúc thức và nhờ đó có thể thực hiện như vậy trong lúc ngủ, và (2) ngăn chặn sức mạnh của chánh niệm bị suy giảm trong lúc ngủ. Phương pháp đầu tiên đã được thảo luận, sau đây là giải thích về phương pháp thứ hai.

    Thông thường, khi ngủ thiếp đi, chúng ta hoàn toàn bị mất sức mạnh chánh niệm và do vậy không nhận ra tám dấu hiệu của giấc ngủ khi chúng xuất hiện. Mặt khác, nếu sức mạnh chánh niệm không suy giảm, chúng ta thấy không thể ngủ được chút nào. Vì vậy, cần rất khéo léo trong việc thực hành hòa nhập với Pháp Thân trong lúc ngủ, chúng ta phải có thể ngủ nhưng vẫn duy trì được sức mạnh chánh niệm. Cách để làm được điều này là cho phép chánh niệm của ta suy giảm rất nhẹ, chỉ đủ để có thể ngủ, nhưng không đến mức ta không thể nhận ra ngay cả dấu hiệu đầu tiên trong tám dấu hiệu của giấc ngủ. Nói chung, chúng sinh phàm phu không biết họ đang ngủ hay đang mơ vì vào những lúc này, chánh niệm của họ hoàn toàn suy giảm, nhưng những thiền giả thành tựu có thể nhận ra tám dấu hiệu là của giấc ngủ và họ cũng có thể nhận ra khi họ đã đi vào trạng thái mơ.

    Vì vậy, khi nằm xuống ngủ, ta nên thực hành thiền nội hỏa với đối tượng chính là chữ A ngắn ở trung tâm luân xa rốn. Đồng thời, với một phần tâm trí, ta nên quyết tâm mạnh mẽ duy trì chánh niệm để nhận diện tám dấu hiệu khi chúng xuất hiện và nhận ra chúng không có sự tồn tại cố hữu. Nếu thực hành liên tục theo cách này, cuối cùng, thông qua sức mạnh tập trung và lòng quyết tâm, ta sẽ đạt được thành tựu, nhưng mỗi lần thực hành, điều quan trọng ngay từ đầu là phải đảm bảo rằng chúng ta tạo ra một quyết tâm mạnh mẽ để nhận diện tám dấu hiệu. Thành công trong thực hành này sẽ dễ dàng hơn nữa nếu trong khi thực hành các hòa nhập lúc thức, ta nhớ rằng tám dấu hiệu tương tự sẽ xuất hiện khi ta ngủ. Ví dụ, khi hình dạng giống như ảo ảnh xuất hiện trong quá trình thực hành lúc thức, ta nên nhắc nhở bản thân rằng dấu hiệu này cũng sẽ xuất hiện khi ta ngủ.

    Tuy chúng sinh phàm phu nhận thức được tịnh quang khi chết và khi ngủ, nhưng họ không thể nhận ra đó là tịnh quang. Tuy nhiên, một tu thiền thành tựu lại có nhận thức đó và sử dụng nó như một phương tiện để đạt được giác ngộ. Người đó có thể nhận thức được tịnh quang trong lúc ngủ thậm chí còn sống động hơn cả khi hòa nhập với Pháp thân trong lúc thức. Do đó, việc hòa nhập với pháp thân trong lúc ngủ là thiền định thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả lúc thức.

    Khi bồ tát vĩ đại Shantideva đang ở tại học viện Nalanda, các sư khác nghĩ rằng ông cực kỳ lười biếng vì ông dường như chỉ làm ba việc: ăn, đại tiện và ngủ, trong số này lại chủ yếu là việc cuối cùng! Tuy nhiên, trên thực tế, ông gắn kết với các thực hành mật tông rất cao cấp của ba sự hòa nhập trong khi ngủ. Điều này cho thấy nếu một người thực sự là một thiền giả lão luyện, thì chính giấc ngủ có thể trở thành một thực hành tinh thần mạnh mẽ.

    Khi hòa nhập với pháp thân trong lúc ngủ, ta nên cố gắng kết hợp kinh nghiệm về bốn không đạt được trong lúc thiền khi thức với kinh nghiệm bốn không đạt được khi ngủ. Theo cách này, thiền định của chúng ta sẽ trở nên rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, để thực hành hòa nhập trong lúc ngủ tốt, giấc ngủ của chúng ta phải dài, sâu và không bị quấy rầy. Nếu bị gián đoạn trong lúc ngủ thiền, chúng ta sẽ bị cản trở khả năng thiền về tịnh quang. Ví dụ, nếu sau khi trải qua hai dấu hiệu đầu tiên của giấc ngủ, ta bị đánh thức hoặc bị quấy rầy bởi điều gì đó, việc này sẽ cản trở nhận thức của ta về các dấu hiệu còn lại, do vậy, việc thực hành hòa nhập với pháp thân trong lúc ngủ của ta sẽ bị gián đoạn. Trong Ngọn đèn Tích hợp Thực hành, Aryadeva hỏi: “Nguyên nhân của giấc ngủ sâu kéo dài là gì?” rồi trả lời rằng nói khiến các luồng khí tập trung mạnh mẽ ở tim. Các luồng khí này tập trung càng mạnh ở tim, giấc ngủ của chúng ta sẽ càng dài và sâu hơn.

    Do giấc ngủ sâu dài là loại tốt nhất để thực hành hòa nhập trong lúc ngủ, ta nên có gắng tập hợp các luồng khí trong tim mình bằng cách quán tưởng như sau. Trong khi chìm vào giấc ngủ, ta tập trung tâm trí vào giọt bất hoại ở trung tâm luân xa tim. Ta tập trung tâm trí vào giọt này và cho phép bản thân chìm vào giấc ngủ. Nếu muốn, ta có thể quán tưởng một chữ cái ở tim. Ví dụ, một hành giả nội hỏa có thể dùng chữ A ngắn. Lúc đầu, ta tập trung vào A ngắn này của nội hỏa trong khí nó nằm trong luân xa rốn. Sau đó, ngay trước khi chìm vào giấc ngủ, ta di chuyển chữ cái lên qua trung mạch cho đến khi nó đến không bảo của luân xa tim nơi giọt bất hoại trú ngụ. Sau đó, khi chìm vào giấc ngủ, ta quán chữ A ngắn này ở tim mình.

    Có phương pháp khác có hiệu quả trong việc tạp ra một giấc ngủ dài và sâu, và nó đặc biệt hữu ích nếu ta muốn ngủ nhanh. Đầu tiên, ta quán tưởng giọt bất hoại ở trung tâm tim của mình có dạng một giọt trắng sáng. Sau đó, giọt này đi xuống qua trung mạch và cuối cùng dừng lại ở đầu cơ quan sinh dục, nơi nó biến thành một giọt đen. Tiếp theo, ta ngủ thiếp đi trong khi tập trung vào giọt đen này.

    Để dễ dàng hơn cho việc nhận ra tám dấu hiệu trong giấc ngủ dài và sâu, ta nên sử dụng bất cứ phương pháp nào cảm thấy hữu ích nhất để đạt được mục tiêu này. Ngay cả khi chứ sẵn sàng để bắt đầu thực hành thực tế các pháp hòa nhập trong lúc ngủ, điều quan trọng là phải bắt đầu tu luyện ngay bây giờ để hạt giống của thực hành này được gieo trồn và vun đắp trong tâm trí chúng ta. Điều đúng với toàn bộ chín pháp hòa nhập.

    Không nhất thiết phải thực hành các phương pháp của mật tông để đạt được chứng nhận có ý thức rằng giấc ngủ của ta là giấc ngủ, giấc mơ là giấc mơ. Nhận thức như vậy có thể đạt được chỉ thông qua sức mạnh của lòng quyết tâm và sự tập trung. Trong khi đang ở trạng thái thức, ta nên đưa ra quyết tâm mạnh mẽ và liên tục để nhận ra giấc ngủ của ta là giấc ngủ, còn giấc mơ là giấc mơ. Sau đó, ta có thể đạt được hai nhận thức này bằng đạo hạnh của sự chú tâm vững chắc. Khi đang thực sự tu hành mật tông, hai nhận thức này đạt được bằng cách khiến các luồng khí đi vào, trú ngụ và tan chảy trong trung mạch kết hợp với sức mạnh của sự tập trung. Nếu trước đây đã quen với kinh nghiệm bề bốn không bằng thực hành hòa nhập trong lúc thức, thì sẽ không khó để nhận ra chúng khi ta đang ngủ.

    Kết luận, khi nhận thức được tịnh quang của giấc ngủ, ta nên sử dụng tâm trí đó để thiền về tính không. Nếu có thể thực hành pháp này, ta sẽ hòa trộn tịnh quang con và mẹ của giấc ngủ, kết quả là, ta cũng sẽ có thể hòa nhập tịnh quang con và mẹ của cái chết. Trong lúc thức, tịnh quang duy nhất mà ta có thể kinh nghiệm là tịnh quang con, do đó, thời điểm duy nhất ta có thể hòa trộn tịnh quang con và mẹ trước khi chết thực sự là lúc ta đang ngủ. Điều này cho phép ta chuyển hóa tịnh quang của giấc ngủ thành pháp thân thực sự của con đường (tịnh quang ví dụ hoặc tịnh quang nghĩa), hoặc thành một pháp thân của con đường tương tự như nó. Nếu thành công trong việc này, ngay cả giấc ngủ của chúng ta cũng sẽ trở thành một pháp thiền mạnh mẽ và có ích.
  9. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    HÒA NHẬP VỚI BÁU THÂN TRONG LÚC NGỦ


    Pháp hòa nhập thứ năm trong chín, chỉ có thể được thực hành khi chúng ta đang mơ. Nhìn chung, có hai loại giấc ngủ: ngủ không mơ và ngủ mơ. Giấc ngủ trải qua trong tiến trình của tám dấu hiệu là giấc ngủ không mơ, giấc mơ xuất hiện khi tịnh quang của giấc ngủ chấm dứt. Điều này rất giống với cách mà trạng thái trung ấm xuất hiện ngay khi tịnh quang của cái chết chấm dứt.

    Ngủ không mơ cũng có hai loại: ngủ nhẹ và ngủ sâu. Ngủ nhẹ được kinh nghiệm từ hình dạng giống như ảo ảnh cho đến hình dạng tăng cường màu đỏ, mặc dù giấc ngủ của chúng ta càng lúc càng sâu hơn với sự xuất hiện của mỗi dấu hiệu liên tiếp. Giấc ngủ sâu nhất trong tất cả là thứ được trải nghiệm trong con ngất ngây của tâm trí gần đạt được màu đen, khi chánh niệm của ta tạm thời bị mất đi.

    Từ lúc bắt đầu hình dạng như ảo ảnh, hành giả mật tông nắm giữ tính không như đối tượng của thiền định, nhưng khả năng nắm giữ đối tượng này sẽ dừng lại trong một khoảng thời gian trong lúc tâm trí gần đạt được màu đen đang ngất ngây. Khi tính không thứ tư, chính là tịnh quang, dần dần hiện ta, chúng ta lấy lại được chánh niệm rất tinh tế. Chính nhờ sức mạnh của chánh niệm rất vi tế này mà ta có thể kết hợp tinh quang mẹ và con của giấc ngủ.

    Chúng ta co sẽ không kinh nghiệm bất kỳ giấc mơ nào cho đến khi tịnh quang của giấc ngủ chấm dứt. Sau khi hòa nhập với pháp thân trong lúc ngủ, trong thời gian đó ta thực hành chuyển hóa tịnh quang giấc ngủ thành pháp thân của con đường, thiền giả mật tông thực hành hòa nhập với Báu Thân trong lúc ngủ. Điều này đòi hỏi phảo tu luyện để chuyển hóa trạng thái mơ thông thường thành báu thân của con đường. Trong khi vẫn ở dạng pháp thân, ta quyết tâm đạt được báu thân để sở hữu một thân hình mà người khác có thể nhìn thấy. Sau đó, khi trạng thái mơ bắt đầu, ta nhận ra nó là gì và thực hành chuyển hóa thân giấc mơ thành báu thân của con đường bằng cách xuất sinh trong thân tướng của Thần bản tôn riêng của ta, màu trắng với một mặt và hai tay, ôm một vị phối ngẫu trí tuệ màu trắng. Trên cơ sở này, tiếp theo chúng ta phát triển niềm tự hào thánh linh khi là Báu Thân. Theo cách này, ta có thể chuyển hóa trạng thái mơ phàm tục thành báu thân thực sự của con đường(thân huyễn), hoặc thành một báu thân của con đường tương tự như nó.

    Báu thân thực sự của con đường phát sinh từ tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng và khí mà nó gắn kết. Như đã chỉ ra trước đó, thân huyễn hoàn toàn khác với thân vật lý thô thiển. Mặc dù nó là một thân thể thực tế nhưng nó chỉ được nhận thức bởi những người đã đắc được thân huyễn giống như một thân giấc mơ chỉ được nhận thức bởi những người đang mơ. Khi đắc được thân huyễn, hình dạng vi tế của chúng ta thực sự chuyển hóa thành diện mạo của Thần Bản Tôn của mình. Đây là Báu Thân thực sự của con đường. Khi hòa nhập với Báu Thân trong lúc ngủ, ta chuyển hóa thân giấc mơ thành báu thân thực sự của con đường hoặc thành một báu thân của con đường tương tự như nó.

    Ngủ mơ cũng là một dạng giấc ngủ nhẹ. Để có thể sử dụng giấc ngủ như vậy trong thực hành, giấc mơ của chúng ta phải rất dài và rõ ràng, ta phải có một sức mạnh chánh niệm phát triển mạnh mẽ để có thể nhận ra giấc mơ của mình là gì và nhờ đó có thể chuyển hóa thân giấc mơ thành báu thân của con đường. Miễn là thân giấc mơ vẫn còn, ta nên cố gắng duy trì chuyển hóa này cùng với lòng tự tôn thần thánh là báu thân của một vị Phật. Sau đó, khi nhận ra giấc mơ sẽ sớm kết thúc, ta chuẩn bị thực hành hòa nhập thứ sáu trong chín: hòa nhập với Hóa Thân trong lúc ngủ.


    HÒA NHẬP VỚI HÓA THÂN TRONG LÚC NGỦ


    Hòa nhập thứ sáu có thể được giải thích bằng cách sử dụng thực hành Heruka làm ví dụ. Trong trạng thái mơ, ta thiền rằng mình đang ở trong hình dạng Báu Thân màu trắng của Heruka. Sau đó nghĩ rằng nếu ta duy trì trong hình dạng đó, chúng sinh phàm phu sẽ không thể nhìn thấy chúng ta, bởi vì chỉ chỉ có các Bồ Tát và Phật siêu việt mới có thể nhận biết được Báu Thân của một vị Phật. Từ đó, ta quyết tâm mạnh mẽ để xuất hiện trong hình tướng của một Hóa Thân mà ngay cả chúng sinh bình thường cũng có thể nhìn thấy và hưởng lợi từ đó.

    Sau đó, với động lực bồ đề tâm mạnh mẽ, ta thức dậy từ giấc ngủ của trạng thái mơ. Điều quan trọng là ta phải thực hành thức dậy theo một cách cụ thể, thực hành các hòa nhập trong khi ngủ rất giống với thực hành các pháp hòa nhập trong khi thức. Trước khi đi ngủ, ta quán tưởng mình là Heruka thể hứa nguyện, màu xanh lam, một mặt hai tay, ôm vị phối ngẫu của mình, nhưng khi thực hành các hòa nhập với pháp thân và báu thân trong lúc ngủ, ta đã mất đi hình dạng của thể hứa nguyện này. Khi bước vào trạng thái mơ, ta lưu xuất từ tịnh quang của giấc ngủ dưới dạng Heruka trắng, do đó chuyển hóa thân giấc mơ thành Báu Thân. Heruka trắng này là thể trí tuệ. Thân của thể trí tuệ này là một thực thể khác với thân của thể hứa nguyện, Heruka xanh, cũng giống như thân giấc mơ của ta là một thực thể khác với thân vật lý thô.

    Để thực hành hòa nhập với Hóa Thân trong lúc ngủ, ta điều hướng thể trí tuệ nhập vào thân của thể hứa nguyện theo cùng cách mà thân giấc mơ nhập vào thân vật lý thô khi ta thức dậy khỏi trạng thái mơ. Vì vậy, Heruka trắng nhập vào Heruka xanh rồi ở lại trong tim của Heruka xanh. Tiếp theo, ta xuất sinh từ trạng thái mơ dưới hình dạng Heruka xanh và phát sinh lòng tự tôn thiêng liêng mãnh mẽ khi là Hóa Thân của một vị Phật. Ta nghĩ rằng “Tôi là Hóa Thân kết quả, tôi là Heruka”. Mặc dù niềm tự hào thánh linh này được tạo ra lúc thức, nhưng thực hành này được gọi là “hòa nhập với Hóa Thân trong lúc ngủ”. Lý do là quá trình hòa nhập này bắt đầu bằng một quyết tâm mạnh mẽ được tạo ra khi vẫn còn trong giấc ngủ của trạng thái mơ.

    Trong khi đang thực hành ba hòa nhập của giấc ngủ, thời gian ngủ và mơ được cho là thuộc về thời khóa thiền định cùng với thời gian thức dậy dưới hình tướng Hóa thân để đạt được thành tựu tiếp theo. Trong quá trình thành tựu tiếp theo, ta nên liên tục quán chiếu mọi hiện tượng như là không có sự tồn tại cố hữu, coi tất cả tính không này là bản tính của hỷ lạc, và nhận thức hỷ lạc này như là hình tướng của thân Bản tôn.

    Phần này nói về hòa nhập trong lúc ngủ được kết thúc bằng năm câu hỏi và trả lời trích từ tác phẩm Đèn của Năm hành vi cô đọng:

    1. Nguyên nhân của giấc ngủ nói chung và giấc ngủ dài sâu nói riêng là gì? Giấc ngủ xảy ra khi năm luồng khí thô, tức cái gắn liền với năm thức giác quan, hội tụ tự nhiên lại ở tim. Cho đến khi những luồng khí này chưa tụ hợp tại đó, chúng ta không thể ngủ được. Trên thực tế, nếu bị khó ngủ thì đó là do những luồng khí này không quy tụ tại tim vì ví do này hay khác. Đôi khi chúng tụ hợp tự nhiên ngay cả khi chúng ta không muốn chúng như vậy; ví dụ, trong khi giảng dạy hoặc giữa khóa thiền! Sự hội tụ không tự nguyện của các luồng khí tại tim này có thể do tinh thần sa sút, buồn ngủ, mệt mỏi về thể chất, ăn quá nhiều, thiếu ngủ đêm hôm trước, vân vân.

    Cần lưu ý rằng ngoài quá trình tập hợp tự nhiên, các luồng khí của năm giác quan cũng có thể quy tụ ở tim thông qua sức mạnh thiền định và tại thời điểm chết, nhưng trong những trường hợp này, giấc ngủ không xảy ra vì sự tụ hợp của các luồng khí không xảy ra tự nhiên. Về nguyên nhân của giấc ngủ dài và sâu, điều này xảy ra khi các luồng khí không chỉ hội tụ tự nhiên ở tim mà còn tập hợp mạnh mẽ.

    (2) Nguyên nhân của những giấc mơ nói chung và những giấc mơ dài và rõ ràng nói riêng là gì? Như đã nêu ở trên, chừng nào các luồng khí vẫn duy trì ở tim, chúng ta phần nhiều vẫn kinh nghiệm trạng thái ngủ sâu. Khi những luồng khí này rời khỏi tim và tụ lại ở cổ họng, chúng ta chuyển từ trạng thái ngủ sâu sang trạng thái ngủ nhẹ nhàng hơn ngủ mơ. Nói cách khác, trạng thái mơ xảy ra khi giọt ở luân xa cổ họng và các luồng khí gặp nhau. Nguyên nhân của những giấc mơ dài và rõ ràng là các luồng khí hội tụ mạnh mẽ ở cổ họng. Chừng nào các luồng khí còn tụ lại ở cổ họng, chúng ta còn ở trong trạng thái mơ và chúng tụ lại đó càng lâu và càng mạnh thì những giấc mơ của chúng ta sẽ càng dài và càng rõ ràng hơn.

    (3) Điều gì khiến thân giấc mơ nhập vào thân thô khi chúng ta tỉnh dậy khỏi trạng thái mơ? Ngay cả khi thân giấc mơ của chúng ta du hành đến một nơi xa xôi, khi tỉnh dậy, nó ngay lập tức nhập lại vào thân thô của chúng ta. Điều này xảy ra vì thân giấc mơ chỉ tạm thời rời khỏi thân thô, và mối quan hệ tồn tại giữa hai thân vẫn chưa kết thúc. Miễn là liên kết nghiệp báo của chúng không bị cắt đứt, thì thân giấc mơ sẽ luôn trở về với thân thô. Ví dụ, khi một người cha trong gia đình đi làm xa, ông ấy chỉ tạm thời rời khỏi gia đình, và khi hoàn thành công việc, ông ấy sẽ trở về với họ. Ông ấy làm vậy vì mối quan hệ của ông với gia đình. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, mối quan hệ hoặc kết nối đó kết thúc, người cha sẽ không thể trở về như ông đã lên kế hoạch ban đầu. Tuy nhiên trong tình trạng giấc mơ, nơi mà thân giấc mơ du hành đến không phải là một địa điểm thực tế mà là một địa điểm trong mơ.

    (4) Nếu thân giấc mơ và thân thô khác nhau, tại sao những kinh nghiệm của thân giấc mơ lại chín muồi trên thân thô? Một người có thể thức dậy sau cơn ác mộng kinh hãi và phát hiện ra tim mình đập thình thịch và lòng bàn tay đổ mồ hồi, hoặc một người chỉ mơ thấy mình quan hệ ******** nhưng thực tế lại bị mất tinh dịch. Lý do những điều này có thể xảy ra là vì tâm trí của người mơ và tâm trí người thức là cùng một thể liên tục. Chỉ có một người tồn tại liên quan đến thể liên tục này và vì vậy những kinh nghiệm của tâm trí lúc mơ của người đó có thể chín muồi trên tâm trí lúc thức. Điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Ví dụ một người có thể trải nghiệm bị mưa tạt vào người khi đang ngủ với kết quả là người đó mơ thấy mình đang bơi hoặc chết đuối.

    (5) Nguyên nhân nào khiến ta thức giấc? Ta thức giấc khi các luồng khi rời khỏi cổ họng và tụ lại ở trán. Nếu ta muốn nhanh chóng thức dậy khỏi giấc ngủ với tâm trí tỉnh táo sáng suốt, ta nên quán tưởng một giọt màu trắng ở luân xa trán và tập trung vào đó trước khi chìm vào giấc ngủ. Như đã đề cập trước đó, các luồng khí được gắn kết sẽ tụ lại ở bất cứ nơi nào tâm trí tập trung, và chính sự quy tụ của các luồng khí ở trán là nguyên nhân khiến ta thức dậy khỏi giấc ngủ.
  10. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    GIẢI THÍCH VỀ HÒA NHẬP TRONG LÚC CHẾT


    Vì chỉ có một cơ hội trong mỗi kiếp sống để thực hành hòa nhập trong lúc chết nên điều rất quan trọng là chúng ta phải tu luyện pháp này ngay khi còn sống. Việc thực hiện thành công hòa nhập trong lúc chết phụ thuộc vào việc đạt được sự thành thạo trong ba hòa nhập trong lúc ngủ. Nếu không thể hòa nhập với Pháp Thân, Báu Thân và Hóa Thân trong lúc ngủ thì chắc chắn ta sẽ không thể hòa nhập với chúng trong lúc chết. Hơn nữa, thành công trong việc thực hành ba hòa nhập trong lúc ngủ phụ thuộc vào sự thành thục trong việc thực hành ba hòa nhập trong lúc thức. Thực hành dễ nhất trong số các pháp này là hòa nhập trong lúc thức vì chúng mang lại nhiều cơ hội hơn để sử dụng chánh niệm thô của chúng ta.

    Nói chung, ngủ và chết rất giống nhau ở chỗ trong các hai trường hợp, khí đều tụ lại ở tim. Vào thời điểm chết, chúng ta kinh nghiệm tám dấu hiệu từ hình dạng giống như ảo ánh đến tịnh quang. Một thiền giả thành công sẽ kết hợp tám dấu hiệu chết này với tám dấu hiệu xảy ra khi khí hòa tan vào trung mạch thông qua thiền định giai đoạn thành tựu. Theo cách này, người đó chuyển hóa tám dấu hiệu chết thành con đường đạo. ở đây chúng ta đang nói về một thiền giả đã thực hành thiền mật tông nhưng vẫn chưa đạt được giác ngộ. Như đã nêu ra trước đây, nếu một người đã đạt được giác ngộ trong đời mình, người đó sẽ không cần thực hành ba hòa nhập trong khi chết vì họ đã vượt qua cái chết phàm tục. Tuy nhiên, cuộc đời rất ngắn ngủi và cái chết có thể đến ngay cả với một thiền giả vĩ đại trước khi đạt được giác ngộ chung cuộc. Nếu chuyện này xảy ra, cần phải thực hành các pháp hòa nhập trong lúc chết.

    Nếu không thể thực hành những hòa nhập này trong lúc chết, chúng ta sẽ phải tái sinh luân hồi như thường mà không có bất kỳ lựa chọn nào, và sẽ có nguy cơ lớn là quên đi tất cả những kiến thức đạo học mà chúng ta đã có được trong kiếp sống này. Nếu chết mà không được kiểm soát có ý thức, chúng ta sẽ mất đi tất cả mọi thứ mà ta đã cố gắng rất nhiều để học trong cuộc đời này, chỉ còn lại những dấu ấn của kiến thức này. Ngay cả khi có may mắn được tái sinh thành người trong kiếp sau, ta sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, trải qua những khó khăn tương tự trong việc thu thập kiến thức mà ta đã gặp được trước đây. Mặt khác, nếu chết trong sự kiểm soát, ta sẽ có thể thực hành từ kiếp này sang kiếp sau. Chỉ có thân thể vật lý của chúng ta thay đổi, kiến thức mà ta đã thu thập được sẽ còn lại nguyên vẹn.

    Điều quan trọng là phải chết với một tâm trí vui vẻ và tích cực. Mặc dù ta có thể thực hành rất chăm chỉ trong kiếp này, nhưng nếu chết với một tâm trí tức giận hoặc tiêu cực, ta sẽ rơi vào một trong ba cõi thấp. Do đó, trong khi đang chết, chúng nên rất chú tâm đến hoạt động tinh thần của mình và kiểm tra xem nó có phẩm hạnh hay không. Bài kiểm tra thực sự của một thiền giả thành công là liệu anh ta có thể duy trì việc thực hành Pháp trong quá trình chết hay không.

    Khi thực hành các hòa nhập trong lúc thức, ta nên nhớ rằng mục đích là để có thể thực hành chúng trong lúc ngủ, và khi thực hành lúc ngủ, ta nên nhớ rằng mục đích là để có thể thực hành chúng trong lúc chết. Đối với các thực hành trong lúc chết, chúng có ba mục đích chính: (1) Bảo vệ chúng ta khỏi nỗi sợ hãi trong suốt quá trình chết. (2) Trao cho chúng ta quyền năng để lựa chọn hoàn cảnh cho sự tái sinh tiếp theo của mình, và (3) Cho phép chúng ta mang thực hành của kiếp này vào kiếp sau của mình. Chỉ riêng ba lý do này thôi cũng đủ để chứng minh các thực hành Kim Cương Thừa quý giá như thế nào. Hơn nữa, bằng cách thực hành Kim Cương Thừa hoàn hảo và thanh tịnh, chúng ta chắc chắn sẽ có thể đạt được giác ngộ trong kiếp sau nếu chúng ta không thể làm được như vậy trong kiếp này.

    Giống như các thực hành hòa nhập trong lúc thức và lúc ngủ, các thực hành lúc chết cũng có ba phần:

    1. Hòa nhập với Pháp thân trong lúc chết

    2. Hòa nhập với Báu Thân trong lúc chết

    3. Hòa nhập với Hóa Thân trong lúc chết


    HÒA NHẬP VỚI PHÁP THÂN TRONG LÚC CHẾT


    Chúng ta bắt đầu thực hành này ngay khi chắc chăn rằng mình sắp chết, bằng cách chọn một đối tượng thiền định sẽ khiến các luồng khí của mình đi vào, trụ lại và hòa tan trong trung mạch. Nếu như trong suốt cuộc đời, thực hành chính của chúng ta là nội hỏa, thì bây giờ ta nên sử dụng nó làm đối tượng thiền định của mình và tiếp tục thực hành cho đến khi chúng ta chết. Nếu ta thực hành nội hỏa trong quá trình chết, tám dấu hiệu sẽ xuất hiện rất rõ ràng.

    Khi những dấu hiệu này xuất hiện, ta nên thiền về sự thiếu vắng tồn tại cố hữu của chúng. Thiền này nên bắt đầu ngay từ lúc khởi đầu hình dạng như ảo ảnh và tiếp tục xuyên qua tám dấu hiệu. Khi đạt đến tịnh quang của cái chết, chúng ta không nên đánh mất sức mạnh của chánh niệm mà thay vào đó sử dụng chánh niệm vi tế của mình để cho phép chúng ta thiền về tính không bằng tâm rất vi tế của tịnh quang. Như đã đề cập trước, chúng sinh phàm phu mất đi sức mạnh chánh niệm trong quá trình chết và do đó không thể nhận ra tịnh quang ngay cả khi nó xuất hiện. Tuy nhiên, một thiền giả thành tựu có thể duy trì chánh niệm của mình vì đã tu luyện chuyên sâu trước đó về các pháp hòa nhập lúc thức và ngủ. Nhờ đó, một thiền giả như vậy không chỉ có thể nhận ra tịnh quang của cái chết mà còn có thể thiền về tính không bằng tâm rất vi tế đó. Theo cách này, chúng ta thực hành chuyển hóa tịnh quang bình thường của cái chết thành pháp thân của con đường.

    Trong tịnh quang này, chúng ta nên phát sinh lòng tự tôn thần thánh là pháp thân kết quả, điều này sẽ làm cho sự hòa nhập thứ bảy trở nên bất khả hủy diệt.


    HÒA NHẬP VỚI BÁU THÂN TRONG LÚC CHẾT


    Khi tu tập trong pháp thân của con đường, ta tập trung vào tính không với tâm tịnh quang. Đây là thực hành chính của chúng ta, nhưng một phần nhỏ trong tâm trí của ta nên xác định rằng khi thời điểm của trạng thái trung ấm đến, chúng ta sẽ xuất sinh trong hình tướng Báu Thân. Nếu đã thành thạo trong việc nhận ra giấc ngủ là giấc ngủ và giấc mơ là giấc mơ, chúng ta cũng sẽ có thể nhận ra trạng thái trung gian khi nó diễn ra.

    Nhờ sức mạnh của lòng quyết tâm trước đó, một thiền nhân thành tựu có thể ngăn chặn sự xuất hiện của trạng thái trung ấm tầm thường và thay vào đó làm phát sinh hình tướng của Thần bản tôn. Do đó, nếu Heruka là thần bản tôn của chúng ta, ta nên chuyển hóa thân trung ấm thành thân của Heruka, màu trắng với một mặt hai tay và ôm vị phối ngẫu trí tuệ. Sau đó, ta nên thiền về niềm tự hào thánh linh khi trở thành Báu Thân kết quả của một vị Phật.

    Một người có thể thiền theo cách này đã mang thực hành của kiếp trước vào trạng thái trung ấm. Chúng sinh ở trạng thái trung âm này có quyền kiểm soát trong việc lựa chọn hoàn cảnh cho sự tái sinh tiếp theo và có thể xuất hiện bất cứ nơi nào họ muốn, ví dụ cõi tịnh độ của Vajrayogini hoặc ở một cõi Phật khác. Một hành giả như vậy đã thành công trong việc hòa nhập với Báu Thân trong lúc chết.

    Điều quan trọng là phải nhớ ý nghĩa cụ thể của các thuật ngữ được sử dụng ở đây. Báu Thân mà chúng ra tu luyện ở giai đoạn này là báu thân con đường, không phải là báu thân kết quả thực sự của mộ vị Phật. Như đã nói từ trước, trạng thái trung ấm thông thường được gọi là báu thân nền tảng theo mật tông. Thông qua sức mạnh của tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng, thiền giả thành tựu sẽ đạt được thân huyễn, báu thân con đường, thay cho thân trung ấm bình thường. Thân trung ấm và thân huyễn đều phát sinh từ cùng một chất: khí rất vi tế. Khi báu thân kết quả của một vị Phật cuối cùng đạt được, thứ này cũng sẽ phát sinh từ khí rất vi tế. Tuy nhiên, cần nhớ rằng mặc dù báu thân nền tảng và báu thân con đường được gọi là “báu thân” nhưng chúng không phải là báu thân thực sự của một vị Phật.

    Tóm lại, khi hòa nhập với Báu Thân trong lúc chết, ta sẽ xuất sinh từ tịnh quang trong hình tướng màu trắng của thần bản tôn riêng của mình.vì vậy, tùy thuộc vào các thực hành trước đây, chúng ta sẽ phát sinh như Heruka trắng, Vajrayogini trắng, vân vân. Màu trắng biểu thị thân huyễn bởi vì bản chất của thân huyễn này, khí rất vi tế, là màu trắng. Sau đó, với lòng tự hào thiêng liêng, ta thiền rằng mình đã đạt được Báu Thân kết quả của một vị Phật, Đây là thực hành hòa nhập với Báu thân trong lúc chết.


    HÒA NHẬP VỚI HÓA THÂN TRONG LÚC CHẾT


    Vào thời điểm này, chúng ta đã sẵn sàng thực hành hòa nhập thứ chín và cũng là cuối cùng trong chín pháp hòa nhập: hòa nhập với Hóa Thân lúc chết. Thực hành này bắt đầu khi ta vẫn đang hòa nhập với Báu Thân. Trong khi vẫn giữ niềm tự hào thần thánh là Báu Thân kết quả, ta quyết định xuất hiện trong phương diện Hóa Thân vì lợi ích của toàn thể chúng sinh. Nghĩ rằng:

    Nếu tôi vẫn mãi ở trong hình dạng Báu Thân, chúng sinh bình thường sẽ không thể nhìn thấy tôi, vì vậy tôi sẽ không thể giúp họ. Hơn nữa, nếu tôi muốn hoàn thành ước nguyện thành tựu thực hành mật tông, tôi phải có một Hóa Thân.

    Lúc này, chúng ta lựa chọn tái sinh tiếp theo của mình, có thể là ở cõi người hoặc một trong những cõi Tịnh Độ. Ví dụ, nếu muốn được sinh ra làm người trong những điều kiện thuận lợi để tiếp tục thực hành mật tông, ta sẽ nghĩ:

    Vì vẫn chưa hoàn thành việc thực hành mật tông, tôi phải tái sinh ở cõi người. Vậy thì quốc gia nào sẽ thuận lợi nhất cho việc thực hành của tôi?

    Sau đó nếu là một thiền giả thành tựu, chúng ta sẽ tái sinh ở một quốc gia nơi mật tông được giảng dạy bởi những đạo sư đủ tiêu chuẩn. Không giống như những chúng sinh phàm tục, những người từ trạng thái trung ấm tái sinh trong bụng mẹ mà không có sự kiểm soát hoặc lựa chọn có ý thức, các thiền giả thành tựu hoàn toàn có thể xác định nơi chốn và thời điểm họ sẽ tái sinh.

    Sau đây là lời giải thích ngắn gọn về quá trình tái sinh có kiểm soát. Nếu vị thần bản tôn riêng của chúng ta là Heruka, ta nên coi người mẹ tương lai của mình và Vajravahari và người cha tương lai của mình là Heruka. Thông qua sức mạnh quán tưởng này, ta ngăn ngừa các hình tướng tầm thường của cha mẹ tương lai và mang thực hành của kiếp trước sang kiếp sau. Từ trạng thái trung ấm, tacoi mẹ mình là thể hứa nguyện và bản thân là thể trí tuệ. Sau đó, khi những giọt đỏ và trắng của cha mẹ tương lai hòa trộn, ta bước vào sự hợp nhất của các tế bào mầm và phát triển lòng tự hào linh thánh khi trở thành Hóa Thân kết quả của một vị Phật. Hóa Thân này được quán tưởng có màu xanh lam với một mặt và hai tay, ôm vị phối ngẫu. Ngoài ra, nếu bản tôn riêng của ta là Vajrayogini, Hóa Thân này được nhìn thấy có màu đỏ với một mặt và hai tay.

    Khi một người được thụ thai theo cách này chui ra khỏi tử cung của người mẹ, những chúng sinh bình thường sẽ nhận thức người đó như một đứa trẻ bình thường. Tuy nhiên, đây chỉ là vẻ bề ngoài, bên trong họ sẽ có niềm tự hào thiêng liêng không ngừng khi là Hóa Thân của một vị thần bản tôn cụ thể, mặc dù điều này sẽ không rõ ràng với những người khác. Một người đã đạt đến trình độ thực hành này được gọi là Hóa Thân, hay Tulku. Do đó, một Tulku không chỉ là người có thể nhớ lại kiếp trước của mình, mà đúng hơn là một thiền giả đã có ý thức lựa chọn các điều kiện cho sự tái sinh hiện tại của mình và thực hiện tái sinh có kiểm soát theo cách đã mô tả.

    Tóm lại, một Hóa Thân, hay Tulku, là một người đã chết, trải qua trạng thái trung ấm, rồi tái sinh, tất cả đều được kiểm soát có ý thức và không làm gián đoạn tính liên tục của việc thực hành từ kiếp này sang kiếp khác. Đó là thực hành hòa nhập với Hóa Thân trong lúc chết. Một lần nữa cần lưu ý rằng trong trường hợp này, thiền giả có niềm kiêu hãnh thiêng liêng là Hóa Thân nhưng thực tế không có Hóa thân kết quả thực sự của một vị Phật; vốn là thứ chỉ đạt được thông qua sức mạnh của Báu Thân kết quả.

    Toàn bộ lời giải thích về tái sinh có kiểm soát nêu trên chỉ liên quan đến một thiền giả chưa đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng trong lúc chết. Nếu người đó đạt được tâm này, thì thay vì nhập vào trạng thái trung ấm, người đó sẽ đạt được thân huyễn và dựa vào thứ này để đạt được giác ngộ trọn vẹn.

    Trong hai phương pháp để phát triển: chủ thể đối tượng và đại lạc tự nhiên, phương pháp đầu tiên, thâm nhập vào các điểm chính xác của thân thể mình, đến nay đã được giải thích. Tóm lại, bằng cách thiền về các mạch, khí, giọt của mình, chúng ta khiến khí đi vào, tụ lại và hòa tan trong trung mạch của mình, kết quả là tạo ra kinh nghiệm đại lạc tự nhiên.

    Điều quan trọng cần lưu ý là những thiền định này có thể được thực hiện thành công bởi các thành viên của cả hai giới tính. Điều kiện tiên quyết duy nhất là chúng ta phải nhận được quán đỉnh thích hợp từ một đạo sư kim cương đủ tiêu chuẩn. Tùy thuộc vào quán đỉnh và hướng dẫn mà nhận được, trong giai đoạn phát sinh, chúng ta có thể quán bản thân dưới dạng một vị thần nam hoặc nữ, bất kể giới tính của chúng ta. Ví dụ nam giới có thể quán bản thân là Heruka và nữ giới có thể quán mình là Vajrayogini, hoặc nếu thích, năm có thể quán mình là Vajrayogini, còn nữ có thể quán bản thân là Heruka, điều đó không tạo ra sự khác biệt. Nếu vị thần riêng của một tu sĩ là Vajrayogini, anh ta phải tự quán tưởng bản thân trong diện mạo nữ này, giống như tất cả các nam nhân khác có cùng vị thần bản tôn sẽ làm. Điểm cốt yếu của tất cả thực hành này là ngăn chặn các hình tướng tầm thường phát sinh. Nếu một người đàn ông khó chịu khi thấy mình là Vajrayogini, và nếu một phụ nữ gặp khó khăn tương tự khi thấy mình là Heruka, điều này cho thấy rằng họ đã không vượt qua được hình dạng phàm tục của mình. Một khi lỗi lầm này đã được loại bỏ thì việc chúng ta chọn coi mình là một vị thần nam hay nữ cũng không còn quan trọng nữa.

    Khi xem xét khía cạnh Cha – Mẹ của một vị thần bản tôn vô thượng yoga, ví dụ, Heruka được miêu ta đang ôm Vajravahari, có vẻ như hai nhân vật này là hai thực thể khác nhau giống như một người chồng và vợ thông thường là hai người khác nhau, nhưng trên thực tế, cái ôm thần thánh của họ tượng trưng cho sự hợp nhất của đại lạc tự nhiên và tính không. Đại lạc và tính không này lần lượt là phương tiện và trí tuệ của Vajradhara, biểu hiện mật tông của đức Phật, là một và cùng một bản chất. Không giống như tâm trí của chúng sinh bình phàm, tâm thức toàn tri của một vị Phật có thể có hình dạng. Do đó, tâm trí của Vajradhara, là tâm trí của sự hợp nhất giữa đại lạc tự nhiên và tính không, có thể phát sinh trong diện mạo nhị nguyên rõ ràng của khía cạnh Cha và Mẹ của Heruka. Ở trường hợp này, phương tiện đại lạc của Vajradhara xuất hiện trong khía cạnh của Heruka, còn trí tuệ về tính không của ngài xuất hiện trong khía cạnh người phối ngẫu của ngài, Vajravahari, nhưng về căn bản chúng vẫn giống hệt nhau.

    Có nhiều phương pháp hiệu quả để tạo ra đại lạc tự nhiên, bao gồm cả việc trì tụng kim cương được giải thích trong mật điển Bí Mật Tập Hội và các phương pháp khác có thể được tìm thấy trong mật điển Vajrabhairava, vân vân. Theo hệ thống Mahamudra được giải thích ở đây, đại lạc tự nhiên được phát triển chủ yếu bằng cách dựa vào thiền nội hỏa, qua đó chúng ta khiến các luồng khí đi vào, trụ lại và hòa tan trong trung mạch. Vì mỗi phương pháp được giải thích trong mật điển vô thượng yoga đều đầy đủ tự thân, nên không cần phải thực hành tất cả chúng để kinh nghiệm đại lạc tự nhiên. Khi tâm này đã được phát sinh thông qua bất cứ phương pháp nào trong số đó, chúng ta có thể thực hành chín hòa nhập đã đề cập để vượt qua các chướng ngại đối với cả sự giải thoát và trí toàn giác, nhờ đó đạt được giác ngộ trọn vẹn. Việc đạt được trạng thái cao quý này là mục đích tạo ra đại lạc tự nhiên.

    Đến đây kết thúc giải thích về việc tạo ra đại lạc tự nhiên bằng cách thâm nhập vào các điểm chính xác trên thân thể chúng ta.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này