1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Tịnh Quang của Lạc

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi Prahevajra, 14/12/2025.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    CÁCH TU TẬP TRONG TÍNH KHÔNG QUA THIỀN ĐỊNH QUÂN BÌNH VÀ THÀNH TỰU KẾ TIẾP


    1. Yoga của nhập định như không gian

    2. Yoga của thành tựu như huyễn sau đó

    Thông qua hiệu quả phân tích ba điểm thiết yếu, chúng ta có khả năng bác bỏ đối tượng phủ định, cái Tôi tồn tại cố hữu, và nơi mà cái Tôi này xuất hiện sống động trong tâm trí chúng ta, dường như tồn tại từ phía riêng của nó, sẽ xuất hiện tính không, giống như không gian trống rỗng, đó là tính không tồn tại của cái Tôi tồn tại cố hữu này. Tại điểm này, ta nên nghĩ:

    Đến bây giờ tôi vẫn tin rằng cái Tôi tồn tại, nhưng nay, nhờ dựa vào lý luận logic rõ ràng, tôi phát hiện nó hoàn toàn không tồn tại.

    Khi đóm, ta nên tập trung chú ý của mình vào tính không như không gian này mà không quên rằng nó chỉ là sự vắng mặt của cái Tôi cố hữu.

    Nếu ta có thể thiền về tính không với an trú tĩnh lặng, sự chứng ngộ của ta về tính không sẽ trở nên ngày càng rõ ràng hơn, cuối cùng sẽ đạt được chứng ngộ trực tiếp, phi khái niệm về tính không. Tại thời điểm này, ta sẽ vượt qua trạng thái của một chúng sinh bình thường và trở thành một chính sinh siêu phàm trên con đường của cái thấy.


    YOGA CỦA THÀNH TỰU NHƯ HUYỄN SAU ĐÓ


    Nếu trong quá trình nhập định, ta thiền chuyên chú vào tính không như không gian, tức là sự vắng mặt đơn thuần của cái tôi cố hữu, thì khi xả thiền và tham gia vào hoạt động giữa các thời khóa, chúng ta sẽ thấy dễ dàng tham gia vào yoga của thành tựu như huyễn sau đó.

    Trong trạng thái thiền định quân bình như không gian, ta cố gắng ngăn chặn mọi sự hiện diện của cái tôi cố hữu, nhưng ngay khi thoát khỏi trạng thái thiền đó, sự hiện diện này sẽ quay trở lại. Điều này xảy ra vì tâm trí ta bị ràng buộc mạnh mẽ bởi nhận thức từ vô thủy về sự tồn tại cố hữu. Tuy nhiên, thông qua hiệu lực tập trung mạnh mẽ vào sự thiếu vắng tồn tại cố hữu đạt được trong quá trình thiền định quân bình, ta sẽ có thể nhận ra rằng cái tôi tồn tại vốn có này phát sinh trong quá trình thành tựu kế tiếp không tồn tại. Mặc dù nó xuất hiện sống động trong tâm trí, ta nên duy trì một niềm tin mạnh mẽ rằng nó không tồn tại chút nào. Vì dụ, nếu một nhà ảo thuật tạo ra một hình dáng ảo tưởng của con ngựa, mặc dù con ngựa xuất hiện với anh ta, anh ta không tin rằng có một con ngựa thực sự, anh ta chỉ coi nó như một ảo ảnh. Tương tự, mặc dù cái tôi tồn tại cố hữu xuất hiện với chúng ta trong quá trình thành tựu kế tiếp, ta không nên tin rằng nó thực sự tồn tại, mà hãy coi nó chỉ là như huyễn. Chúng ta nên cố duy trì suy nghĩ này toàn thời gian.

    Nếu trong khóa thiền, ta đã từ bỏ mãnh mẽ cái tôi vốn có, thì trong quá trình thành tựu kế tiếp, ta sẽ có một kinh nghiệm rất đặc biệt. Ví dụ, thông thường nếu ai đó xúc phạm ta, ý nghĩ nảy sinh trong tâm trí ta: “Người này đang xúc phạm tôi!” Như đã giải thích, cái tôi xuất hiện trong tâm trí vào những lúc như vậy là một cái tôi cố hữu dường như tồn tại từ phía riêng của nó. Tuy nhiên, nếu thiền định như không gian thành công, ta sẽ không rơi vào cái bẫy đồng nhất với cái tôi này. Thay vào đó, ta sẽ có thể nghĩ “Tại sao tôi phải buồn bã?” Cái tôi cố hữu này không tồn tại”.

    Trở nên bực bội khi bị xúc phạm, vân vân, là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang đồng nhất với cái tôi cố hữu. Vào những lúc như vậy, ta nhận thấy một cái tôi độc lập không phụ thuộc vào cơ thể và tâm trí của mình, và ta bám chặt vào nó rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu cái tôi này đã bị bác bỏ mạnh mẽ trong quá trình thiền định quân bình như không gian, ta sẽ không giữ chặt khi nó xuất hiện trở lại trong quá trình thành tựu kế tiếp. Bằng cách nới lỏng sự kìm kẹp của chúng ta đối với cái tôi này, ta sẽ tự động có khả năng xóa tan nỗi sợ hãi, lo lắng, thất vọng và mọi tình trạng bất hạnh khác của tâm trí.

    Đến lúc này, một nghi ngờ có thể nảy sinh trong tâm và ta có thể nghĩ:

    Chắc chắn là trái với lẽ thường khi nói rằng chúng ta không bị xúc phạm trong những tình huống như vậy?

    Mặc dù không có mâu thuẫn, nhưng nếu thoạt đầu có vẻ như có mâu thuẫn thì đó là một dấu hiệu tốt, vì điều này chỉ ra rằng ta đang suy ngẫm sâu sắc về chủ đề này. Lý do duy nhất khiến ta thấy mâu thuẫn vì ta đã không hiểu rõ bản chất của cái tôi thông thường. Ta cần hiểu rằng cái tôi thông thường không giống với cái tôi cố hữu, là đối tượng của sự phủ nhận. Nếu tuân theo hướng dẫn của một đạo sự đủ tiêu chuẩn và suy nghĩ sâu sắc lâu dài về cái tôi thông thường, cuối cùng ta sẽ thấy rằng nó chỉ được quy kết bởi tâm trí, rằng nó chỉ là cái tên. Nếu hài lòng với cái tên đơn thuần “Tôi”, thì cái Tôi tồn tại và hoạt dụng; nhưng nếu ta tìm kiếm bất cứ điều gì khác ngoài cái tên đơn thuần, ta sẽ không tìm thấy một cái Tôi. Với hiểu biết này, ta sẽ có thể đưa ra quyết định chắc chắn: “Tôi phải tham gia vào mọi hoạt động chỉ để thỏa mãn cái tên “Tôi”. Khi chúng ta đạt được hiểu biết sâu sắc rằng cái Tôi tồn tại chỉ bằng cách được tâm trí quy kết, chúng ta sẽ nhận ra cái Tôi quy ước tinh tế. Ta sẽ thấy rằng suy nghĩ “cái Tôi không có tồn tại cố hữu” không mâu thuẫn với suy nghĩ “cái Tôi chỉ tồn tại quy ước”, sau đó những nghi ngờ như đã đề cập ở trên sẽ không còn phát sinh nữa. Vào thời điểm đó, ta sẽ hiểu được sự hợp nhất của hai chân lý, chân lý quy ước và chân lý tối hậu.
  2. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    CÁCH THIỀN VỀ TÍNH VÔ NGÃ CỦA MỌI HIỆN TƯỢNG


    Như đã đề cập ở trên, có hai loại vô ngã: của người và của các hiện tượng không phải người. Cũng như cái tôi không có sự tồn tại cố hữu, thì mọi hiện tượng khác cũng vậy, và cũng như chúng ta có một tâm trí chấp ngã bẩm sinh nắm giữ một cái tôi tồn tại cố hữu, thì ta cũng có một tâm chấp ngã bẩm sinh nắm giữ những hiện tượng khác ngoài cái tôi như là tồn tại cố hữu. Nếu cơ thể mình làm ví dụ, khi nó được khen ngợi hay bị xúc phạm, ta bám vào một cơ thể sống động, độc lập với các bộ phận của nó, chẳng hạn như đầu, thân và tứ chi, rồi cảm thấy rằng chính cơ thể này đang được khen ngợi hay xúc phạm. Nếu cơ thể yếu, ta nghĩ rằng “Cơ thể tôi yếu”, ta không nghĩ rằng “Đầu của tôi yếu”, “Thân tôi yếu” hoặc “Tứ chi tôi yếu”. Chúng ta nhận thực một cơ thể xuất hiện sống động, độc lập với đầu, thân và tứ chi. Nếu một cơ thể như vậy thực sự tồn tại theo cách nó xuất hiện, thì đó sẽ là một cơ thể tồn tại xố hữu. Đây là đối tượng của sự phủ định.

    Bằng cách nhớ lại hoặc tưởng tượng những tình huống mà cơ thể chúng ta được khen ngợi hay bị xúc phạm, bị bệnh hoặc gặp nguy hiểm, chúng ta nên cố gắng có được hình ảnh rõ ràng nhất trong khả năng về cơ thể hiện hữu sống động này, rồi sẽ thấy rằng đây chính là thân thể mà ta thường trân trọng bảo vệ. Sau đó, ta nên nghĩ:

    Đến nay, tôi vẫn tin rằng cơ thể này tồn tại và trân trọng nó, nhưng giờ đây tôi không chỉ hài lòng với việc tin rằng nó tồn tại, tôi phải điều tra cẩn thận xem liệu nó có thực sự tồn tại hay không.

    Một khi đã có hình ảnh về thân thể tồn tại cố hữu, ta xét đoán chắc chắn rằng nếu thân thể này thực sự tồn tại thì nó phải là một với đầu, thân và tứ chi, hoặc khác với chúng, không có khả năng thứ ba.

    Sau đó, ta tìm kiếm bên trong đầu, thân và tứ chi, lần lượt kiểm tra từng bộ phận để xem liệu đó có phải là cơ thể hay không. Nếu điều tra khéo léo, ta sẽ khám phá ra không chỉ không có bộ phận riêng lẻ nào là cơ thể, ví dụ như cánh ta của ta không phải là cơ thể, mà còn khám phá ra rằng tập hợp của tất cả các bộ phận này không phải là cơ thể. Điểm sau này thoạt đầu không dễ hiểu. Trên thực tế, tập hợp đầu, thân và tứ chi là cơ sở mà cơ thể chúng ta được quy kết. Cơ thể chúng ta là một hiện tượng được quy kết và tập hợp này là cơ sở để quy kết nó, do đó, bản thân tập hợp không phải là cơ thể. Nếu đúng vậy, thì vì cơ thể phụ thuộc vào tập hợp này, nên cơ thể sẽ phụ thuộc vào cơ thể, và nếu đúng vậy thì một cơ thể sẽ là hai thứ, điều này rõ ràng là vô lý. Vì hiển nhiên là chúng ta không có hai cơ thể, nên tập hợp đầu, thân và tứ chi không phải là cơ thể mà chúng ta đang tìm kiếm.

    Đã đi đến quyết định chắc chắn rằng cơ thể không được tìm thấy ở bất cứ đâu trong tập hợp đầu, thân và tứ chi, giờ đây chúng ta xem xét liệu nó có khác với chúng không, và rõ ràng là không phải vậy vì nếu không có đầu, thân, tứ chi thì sẽ không có thân thể. Vì không có khả năng nào khác, hiện nay chúng ta có thể kết luận chắc chắn rằng không thể tìm thấy thân thể cố hữu. Trước đây, một thân thể như vậy xuất hiện sống động trong tâm trí chúng ta, dường như tồn tại từ phía riêng của nó, độc lập với các bộ phận của nó, bây giờ xuất hiện như tính không, đó là sự vắng mặt đơn thuần của thân thể tồn tại cố hữu. Như trước, ta nên tập trung nhất điểm vào tính không như không gian này mà chẳng quên ý nghĩa của nó.

    Khi, trong quá trình thành tựu tiếp theo, thân thể tồn tại cố hữu xuất hiện trở lại, ta nên thực hành yoga của thành tựu như huyễn kế tiếp giống trước đây. Nên cố gắng hiểu thân thể tồn tại quy ước theo cùng cách mà ta hiểu về cái tôi tồn tại quy ước ở trên.

    Thông qua việc dựa vào những lý luận và phép loại suy đúng đắn, ta đã nhận ra được tính không của cái tôi và thân thể mình, ta có thể hướng chú ý của mình đến những hiện tượng khác như những người khác, tâm trí của mình, vân vân. Theo cách này, ta sẽ nhận ra mọi hiện tượng không có ngoại lệ đều không có sự tồn tại cố hữu và chỉ được quy kết bởi khái niệm.

    Đây chỉ là một cuộc thảo luận ngắn gọn về tính không. Để được giải thích chi tiết hơn, ta nên tham khảo cuốn Đại Dương Cam Lộ, một bình luận về Nhập Trung Đạo của Nguyệt Xứng, và Ý nghĩa để Thấy, là một bình luần về Cách Sống Bồ Tát của Tịch Thiên. Chỉ nghiên cứu các văn bản như vậy thôi là chưa đủ, ta cần phải chân thành dựa vào một đạo sư đủ tiêu chuẩn và thực hành chính xác theo hướng dẫn của người đó. Chỉ bằng cách này, ta mới có thể vượt qua được những nghi ngờ của mình và có được cái nhìn sâu sắc về tính không, bản chất tột cùng của mọi hiện tượng.

    KHUYÊN NHỮNG NGƯỜI MUỐN HIỂU KHÔNG SAI LỆCH VỀ CÁI THẤY TỐI THƯỢNG CỦA CẢ KINH VÀ MẬT VỀ SỰ CẦN THIẾT CỦA LẮNG NGHE, SUY NGẪM VÀ THIỀN VỀ VĂN BẢN GỐC CỦA LONG THỌ VỀ TRUNG ĐẠO


    Sự thiếu vắng tồn tại cố hữu của mọi hiện tượng không có ngoại lệ được giải thích bởi Trung Quán Cụ Duyên vô song là ý định tối thường của chính đức Phật, như ngài đã tiết lộ trong kinh Trí Tuệ Bát Nhã. Hơn nữa, theo cả Kinh và Mật, trí tuệ về tính không là quan kiến tối thượng và do vậy là cần thiết cho mọi con đường dẫn đến giải thoát và giác ngộ trọn vẹn.

    Tính không là một chủ đề tinh tế và chỉ những người có trí tuệ lớn mới hiểu được đầy đủ. Đặc biệt, những chúng sinh có tâm trí yếu đuối sẽ thấy khó khăn ngay cả khi nhận ra đối tượng phủ định đúng đắn, sự tồn tại cố hữu. Vì vậy, điều cần thiết là chúng ta phải dựa vào các bình luận xác thực tiết lộ ý nghĩa tính không như đức Phật đã giải thích trong kinh Bát Nhã. Tất cả các học giả và thiền sư vĩ đại của Phật giáo đều đồng ý rằng những bình giảng xác thực như vậy có thể tìm thấy trong các tác phẩm của Hộ pháp Long Thọ, chẳng hạn như văn bản gốc của ông là Trí Tuệ Nền Tảng của Trung Đạo, và các bản tự bình luận như Sáu Mươi Lý Luận, Bảy Mươi Tính Không, Bác Bỏ Phản Biện.

    Điều cốt yếu là phải dựa vào những bản bình giảng này vì bản thân kinh Bát Nhã dễ bị hiểu sai. Ví dụ, những kinh này nói rằng hình dạng là trống rỗng của hình dạng, âm thành là trống rỗng của âm thanh, vân vân. Tuy nhiên, Long Thọ giải thích rõ ràng rằng ý nghĩa thực sự muốn nói là hình dạng là sự trống rỗng của hình dạng tồn tại cố hữu. Vì vậy, từ lời giải thích của Long Thọ, ta có thể hiểu rằng tính không chẳng phải là sự không tồn tại hoàn toàn, như một số người khẳng định, mà đúng hơn là sự vắng mặt của tồn tại cố hữu, phương thức tồn tại hoàn toàn sai lầm do tâm chấp ngã nắm bắt. Chỉ có trí tuệ về tính không mới có thể diệt trừ vô minh đó và đưa chúng ta đến giải thoát hoàn toàn khỏi sợ hãi và đau khổ của luân hồi.

    Có bốn truyền thống chính của Phật giáo Tây Tạng là Nyingma, Sakya, Kagyu và Gelug, và ngay từ đầu, các bậc thầy giác ngộ của mỗi phái này đã dựa vào quan điểm của Long Thọ. Ví dụ, Lama vĩ đại của Nyingma, Longchen Rabjampa, đã nói trong Bình luận về Kho tàng của các Hướng Dẫn rằng ý định tối thượng của đức Phật đã được giải thích bởi Long Thọ vinh quang. Ngài cũng nói rằng trong kinh Đại Chung, đức Phật đã tiên đoán rằng Long Thọ sẽ đến thế giới này và trình bày quan kiến tối thượng này. Trong số nhiều tín đồ của Long Thọ, Nguyệt Xứng, người truyền bá chính của hệ thống Trung Quán Cụ Duyên, là người đã giải thích Long Thọ một cách hoàn hảo, và bản thân Longchenpa cũng theo quan điểm của Nguyệt Xứng. Do đó, nếu ai đó là một hành giả Nyingma thuần túy, người đó phải dựa vào quan điểm của Long Thọ theo cùng cách mà Longchenpa, và thực tế là Liên Hoa Sinh vĩ đại đã làm.

    Các bậc thầy Sakya lỗi lạc trong quá khứ cũng dựa vào quan điểm của Long Thọ. Ví dụ, khi được hỏi về các quan điểm triết học khác, Ngorchen Kunga Zangpo vĩ đại đã trả lời “Tôi không biết về các quan điểm khác, tôi chỉ nghiên cứu quan điểm của Long Thọ về con đường trung đạo. Đó là quan điểm của riêng tôi vì đó là bản chất của Pháp”. Nhiều bậc thầy Sakya khác, như Rendapa đáng kính cũng có cùng quan điểm. Vì vậy, nếu ai đó là một hành giả Sakya thuần túy, họ cũng phải dựa vào quan điểm của Long Thọ.

    Có thể thấy từ những bài đạo ca của Milarepa và Trang Hoàng Ngọc Ngà của Giải Thoát của Gampopa, các vị thầy vĩ đại của Kagyu cũng theo quan điểm Trung Quán Cụ Duyên . Je Tsongkhapa người sáng lập Gelug cũng đã trình bày quan điểm này và viết nhiều bình luận các tác phẩm của Long Thọ. Do đó, nếu ai đó là một hành giả thuần túy của Kagyu hoặc Gelug, họ cũng phải dựa vào quan điểm của Long Thọ.

    Các học giả và thiền sư vĩ đại từ truyền thống Kadampa trong dòng truyền của bậc thầy Atisha cũng dựa trên quan kiến này. Atisha tuyên bố rằng quan điểm của Long Thọ đã được Nguyệt Xứng trình bày hoàn hảo, và rằng đây là quan điểm duy nhất sẽ dẫn chúng ta đến Phật quả. Trên thực tế, nếu ai đó có quan điểm trái ngược với Long Thọ, thì không có cơ hội nào để họ đạt được giải thoát hoặc giác ngộ, bất kể họ thiền nhiều đến đâu. Khi đệ tự người Tây Tạng Dromtonpa trình lên Atisha kinh nghiệm về tính không của mình, Atisha trả lời: “Con khiến thầy hoan hỷ, con đã tìm được cái thấy của Long Thọ”.

    Một số người lầm tưởng rằng có một quan điểm đặc biệt về tính không được trình bày trong Mật tông, nhưng thức tế không phải vậy. Như Sakya Pan***a nói:

    Không có sự khác nhau giữa quan điểm về tính không được trình bày trong Kinh và quan điểm tính không được trình bày trong Mật.

    Vì vậy, nếu thực sự muốn đi trên con đường giác ngộ, chúng ta phải nỗ lực hết mình để hiểu quan điểm của Long Thọ và tu luyện để chứng ngộ sự thiếu vắng của tồn tại cố hữu.

    Với phần thảo luận này về tính không đối tượng, mục chủ đạo đầu tiên của Đại Ấn, Đại Ấn hợp nhất lạc và không đã hoàn tất.
  3. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    THÂN HUYỄN

    CÁCH THỰC HÀNH ĐẠI ẤN HỢP NHẤT HAI CHÂN LÝ


    Có năm giai đoạn thành tựu, toàn bộ đều nằm trong quá trình thực hành Đại Ấn Kim Cương Thừa.

    Đó là: cô lập khẩu, cô lập ý, thân huyễn, tịnh quang và hợp nhất. Giai đoạn cuối cùng cũng được gọi là “hợp nhất vẫn cần học” và nó đi trước Hợp Nhất Không Học Nữa, chính là Phật quả. Bởi vì mỗi giai đoạn này phụ thuộc vào giai đoạn trước, chúng ta phải thực hành cả năm nếu muốn đạt được giác ngộ trọn vẹn.

    Cần lưu ý rằng theo một danh sách khác, có sáu bước thực hành giai đoạn thành tựu, bắt đầu từ cô lập thân và tiếp tục các bước còn lại như trên. Cũng giống như có một thực hành cô lập thân của giai đoạn phát sinh, là yoga vượt qua hình tướng của thân phàm tục, cũng có một thực hành cô lập thân tương tự nhưng cao cấp hơn, của giai đoạn thành tựu. Thành công ở giai đoạn thành tựu phụ thuộc vào việc đã thực hành yoga giai đoạn phát sinh trước đó.

    Theo hệ thống Đại Ấn được trình bày ở đây, bất cứ thiền định nào về yoga nội hỏa được thực hiện sau khi chúng ta đạt được cô lập thân của giai đoạn thành tựu thì đều được bao gồm trong yoga cô lập khẩu. Mục đích chính của thiền cô lập khẩu là nới lỏng các nút thắt kinh mạch của luân xa tim. Như đã giải thích, khi các nút thắt này được nới lỏng và các luồng khí đi vào, trú ngụ rồi hòa tan trong kinh mạch trung ương ở luân xa tim, thiền nhân sẽ kinh nghiệm bốn trạng thái tính không. Một tâm trí kinh nghiệm bất cứ không nào trong số này thông qua sức mạnh thiền định đều được gọi là “cô lập tâm” vì nó được cô lập khỏi các hình tướng nhị nguyên thông thường và khỏi các tư duy khái niệm thô thiển.

    Ba giai đoạn còn lại của quá trình thành tựu sẽ được giải thích theo ba tiêu đề sau:

    1. Giải thích về các giai đoạn đạt được thân huyễn liên quan đến chân lý quy ước

    2. Giải thích các giai đoạn đạt được tịnh quang nghĩa liên quan đến chân lý tối hậu

    3. Giải thích thực tế về Đại Ấn là sự hợp nhất hai chân lý

    Giải thích các giai đoạn đạt được thân huyễn liên quan đến chân lý quy ước có bốn phần:

    1. Cách các đệ tử sở hữu bốn đặc tính thỉnh cầu ý nghĩa của thân huyễn từ một đạo sư đủ tiêu chuẩn

    2. Hiểu biết đúng đắn về thân huyễn phụ thuộc vào hướng dẫn của Đạo sư như thế nào

    3. Nhận biết cơ sở để đạt được thân huyễn

    4. Con đường thực sự để đạt được thân huyễn trên cơ sở này
  4. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Cách các đệ tử sở hữu bốn đặc tính thỉnh cầu ý nghĩa của thân huyễn từ một đạo sư đủ tiêu chuẩn


    Thân huyễn là tối quan trọng trong thực hành Mật tông và chỉ nên được giải thích cho những đệ tử đủ tiêu chuẩn. Trong năm giai đoạn thành tựu, Long Thọ liệt kê bốn thuộc tính mà một đệ tử cần có. Người đó phải: (1) Đã nhận được quán đỉnh mật điển Vô thượng Yoga và có một số kinh nghiệm về giai đoạn phát sinh, (2) Đang tu luyện và thực hành chân nghĩa của Mật tông, sở hữu trí tuệ có thể phân biệt và hiểu rõ ý nghĩa này, (3) gắn kết với các thực hành cô lập thân, cô lập khẩu, cô lập ý của giai đoạn thành tựu, và có một số kinh nghiệm về các thực hành này, (4) đánh giá cao và tin tưởng mạnh mẽ vào thân huyễn thông thường, tịnh quang tối thượng, và Đại Ấn hợp nhất hai chân lý. Khi một đệ tử đủ điều kiện như vậy đã chứng đắc tâm cô lập và ở trong vị thế để nhanh chóng đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng, ngay sau đó sẽ đạt được thanh huyễn bất tịnh, người đó nên thỉnh cầu hướng dẫn từ một đạo sư đủ điều kiện. Điều này rất quan trọng vì cách thức đạt được thân này rất tinh tế và đòi hỏi đệ tử phải phụ thuộc vào một đạo sư đủ điều kiện.

    Nếu thân huyễn chỉ có thể được giải thích cho các đệ tử có các phẩm tính nêu trên thì sẽ có rất ít người đủ tư cách để nhận được những chỉ dẫn này. Vì vậy, điều được nói là một đạo sư cũng có thể giải thích thân huyễn cho các đệ tử có bốn phẩm tính sau, là những thứ gần đúng với những thứ được nếu ở trên. Người đó phải: (1) Đã nhận thức quán đỉnh mật điển Vô Thượng Yoga và đang tu luyện thực hành giai đoạn phát sinh, (2) Có trí tuệ để hiểu chân nghĩa của các văn bản mật tông, (3) đang tu luyện và thực hành ba cô lập của giai đoạn thành tựu, đặc biệt là (4) Đánh giá cao và tin tưởng mạnh mẽ vào thân huyễn, tịnh quang và sự hợp nhất của hai chân lý này.

    Trong tác phẩm Ngọn Đèn Sáng của Năm Giai Đoạn của Nguyệt Xứng và Năm Giai Đoạn Thành Tựu của Long Thọ giải thích rằng đệ tử trước tiên phải lạy đạo sư, dâng một mandala cùng các lễ vật khác, rồi sau đó thực sự thỉnh cầu giải thích về thân huyễn. Trong bối cảnh này và nói chung, điều rất quan trọng là phải khéo kéo trong cách chúng ta đặt câu hỏi cho đạo sư của mình. Nếu câu hỏi rõ ràng và chính xác, những nghi ngờ của chúng ta có thể được loại bỏ ngay lập tức. Vì thân huyễn là một chủ đề rất tinh tế nên một đệ tử bình thường sẽ khó có khả năng hỏi rõ ràng về nó. Vì vậy, trong tác phẩm Ngọn đèn Tích Hợp Thực hành Thánh Thiên đã giải thích cách đặt những câu hỏi này. Trong ví dụ sau đây chúng ta nên lưu ý cách đệ tử bắt đầu bằng cách nếu những gì người đó biết về chủ đề này và chỉ sau đó mới đặt ra những câu hỏi thực sự. Đệ tử đến gần đạo sư và nói:

    Việc thực hành mật tông bắt đầu với giai đoạn phát sinh, qua đó con ngăn chặn hình tướng phàm tục của chính mình và của mọi hiện tượng khác, điều này được thực hiện bằng cách phát sinh chính con trong thân tướng Thần bản tôn và quán tưởng toàn thể vũ trụ như mandala thần bản tôn này. Tuy nhiên, việc thực hành yoga Thần linh này chỉ là tưởng tượng hoặc hình dung, và con không thực sự đắc được thân thể của Thần linh. Ngoài ra, con cũng không đắc được thân thể thực sự của Thần bản tôn khi phát sinh chính con trong thân tướng Thần linh trong cô lập thân, cô lập khẩu và cô lập ý của giai đoạn thành tựu, mà chỉ đạt được một thân Thân linh tưởng tượng vào những thời điểm đó. Thân thể thực sự của Thần bản tôn chỉ thực sự có được khi con đắc thân huyễn. Đây là thân trí tuệ được trang hoàng bằng ba mươi hai dấu hiệu chính và tám mươi dấu hiệu phụ của một chúng sinh giác ngộ trọn vẹn. Do đó, xin hãy cho con biết: Khi nào thì đạt được thân thể thực sự của Thần bản tôn, thân huyễn? Bản chất của thân này là gì? Cơ sở để đạt được nó là gì? Đạt được nó như thế nào? Những phẩm chất tốt của nó là gì?
  5. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    HIỂU BIẾT ĐÚNG VỀ THÂN HUYỄN PHỤ THUỘC VÀO CÁC HƯỚNG DẪN CỦA ĐẠO SƯ NHƯ THẾ NÀO


    Trong Ngọn Đèn Sáng về Năm Giai Đoạn, một bình luận về Năm Giai Đoạn Thành Tựu của Long Thọ, Nguyệt Xứng nói rằng thân huyễn đạt được thông qua việc phụ thuộc vào các hướng dẫn của một vị thầy mật tông đủ tiêu chuẩn có bốn thuộc tính: (1) nó không có bất cứ hình tướng phàm tục nào, (2) nó chỉ được nhận thức bởi thiền giả và những ai cũng đã đắc được thân huyễn, (3) nó không phải là một đối tượng được nhận ra bởi các nhà logic học không thực hành, và (4) nó là thân thể thực sự của Thần bản tôn được trang hoàng bởi 32 tướng chính và 80 tướng phụ. Đối với những chỉ dẫn của một vị thầy đủ tiêu chuẩn, những điều này tham khảo các giải thích có trong Năm Giai Đoạn của Long Thọ, Tích Hợp Hành Động của Thánh Thiên, và Đèn Sáng của Nguyệt Xứng. Nếu không tuân thủ các hướng dẫn được nêu ra trong ba văn bản này, chúng ta không thể biết được thân huyễn thông qua kinh nghiệm của chính mình.

    Phương pháp để đạt được thân huyễn ban đầu được giải thích bởi Đấng Chinh Phục Kim Cang Trì trong mật điển Bí Mật Tâp Hội Gốc. Do những từ ngữ của mật điển này là ngôn từ kim cương nên chúng rất khó hiểu và cần được bình giảng chính xác bởi một vị thầy đủ tiêu chuẩn như Long Thọ, Thánh Thiên hoặc Nguyệt Xứng. Bất cứ điều gì khó hiểu trong văn bản của Long Thọ đều được Thánh Thiên và Nguyệt Xứng làm sáng tỏ trong các bản bình luận của họ. Hơn nữa, những giải thích của cả ba đều được Je Tsongkhapa tổng hợp thành một bộ hướng dẫn duy nhất trong tác phẩm Ngọn Đèn Soi Sáng Năm Giai Đoạn của ông. Một lợi thế bổ sung vào bản tổng hợp của Je Tsongkhapa là nó xóa tan những quan niệm sai lầm về các thực hành giai đoạn thành tựu nảy sinh khi nhiều học giả giải thích sai về các Triết gia Ấn Độ.

    Long Thọ nói rằng nếu không chứng đắc thân huyễn thì không có mục đích gì khi nghiên cứu hoặc thực hành Kinh hay Mật, vì Phật quả, mục tiêu tối thượng của mọi nghiên cứu và thực hành không thể đạt được trừ khi chúng ta đắc được thân huyễn. Để trở thành một vị Phật, chúng ta phải đạt được Sắc Thân của một vị Phật, và nguyên nhân cốt lõi của Sắc Thân là thân huyễn. Ví dụ, nếu không có hạt giống, là nguyên nhân cốt lõi của một mầm cây, thì không có lượng đất, độ ẩm, ánh sáng mặt trời hay phân bón nào có thể tạo ra mầm cây. Tương tự, cho dù có nghiên cứu và thiền định nhiều đến đâu về giáo lý Kinh và Mật, nếu không đắc được thân huyễn thì sẽ không thể đạt được Phật quả. Mặt khác, một khi thực sự đắc được thân huyễn thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được Phật quả hoàn hảo ngay trong kiếp này.

    Tại sao cần dựa vào hướng dẫn của một đạo sư đủ tiêu chuẩn để đắc được thân huyễn? Theo Thừa Ba La Mật, hay Kinh Đại Thừa, một vị Bồ tát ở địa thứ mười và cuối cùng là một chúng sinh tu chứng bậc cao rất gần với việc đạt được Phật quả hoàn hảo, nhưng theo Mật, một Bồ tát như vậy mặc dù đã tu chứng cao nhưng vẫn còn xa mới đạt được Phật quả khi so sánh với thiền giả Mật tông đã đắc được thân huyễn. Điều này là do vị ấy vẫn còn thiếu các điều kiện tiên quyết để đạt được giác ngộ, cụ thể là thân huyễn, thứ chỉ có thể sở đắc thông qua thực hành mật điển Vô Thượng Yoga dựa trên sự hướng dẫn của một Đạo sư kim cương. Nếu điều này đúng với một Bồ tát thập địa, thì điều này càng đúng hơn đối với Thanh Văn và Độc Giác! Hơn nữa, vị ấy cũng không thể đạt được thân huyễn bằng cách trên ba cấp độ thấp hơn của mật tông vì chỉ trong hệ thống mật điển Vô Thượng Yoga thì thân huyễn mới được giải thích.

    Chỉ nghiên cứu giáo lý của mật điển Vô Thượng Yoga là không đủ, chúng ta còn cần phải dựa vào một Bậc thầy mật tông đủ tiêu chuẩn. Có hai bộ phận của mật điển vô thượng: Tantra Mẹ và Tantra Cha, trong bộ phận sau, đặc biệt là trong mật điển Bí Mật Tập Hội Gốc, thân huyễn được giải thích chính yếu. Mật điển Bí Mật Tập Hội Guhyashamaja giống như một kho tàng chứa đầy những viên ngọc quý chẳng hạn như giải thích về thân huyễn và trì tụng kim cương, nhưng nếu muốn sử dụng những viện ngọc này, trước tiên chúng ta phải có được chìa khóa cho kho tàng này bằng các dựa vào các tác phẩm của Long Thọ, Thánh Thiên và Nguyệt Xứng. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng không đủ để giúp chúng ta tiếp cận với thực hành thân huyễn vì kể cả khi có thể đọc những văn bản này, ta vẫn gặp khó khăn lớn trong việc hiểu ý nghĩa của chúng. Do đó, để có thể hiểu và thực hành những văn bản này, ta cũng cần có sự hướng dẫn và giải thích của một đạo sư kim cương đủ tiêu chuẩn.

    Hãy xem xét ví dụ sau. Trong Năm Giai Đoạn Thành Tựu, Long Thọ nói:

    Thân huyễn trú ngụ trong thân thể chúng ta, nhưng vì thiếu may mắn nên chúng ta không hiểu được điều này.

    Nếu câu nói này được hiểu theo nghĩa đen, không được giải thích thêm, sẽ có nguy cơ lớn gây hiểu sai ý nghĩa của nó và kết quả là, sẽ gắn kết với thực hành sai lầm. Nếu thân huyễn thực sự đã tồn tại trong cơ thể chúng ta như những từ ngữ trong trích dẫn này có thể được hiểu theo nghĩa là không cần thiết phải theo con đường của Pháp. Vì vậy, đây không thể là ý nghĩa mà Long Thọ muốn nói. Như sư Tông Khách Ba đã giải thích, Long Thọ muốn nói rằng hạt giống của thân huyễn tồn tại trong mọi chúng sinh nhưng vì chúng thiếu công đức nên tạm thời chúng bị ngăn cản trau dồi tiềm năng này.

    Đây chỉ là một ví dụ nhỏ, nhưng nó cho thấy việc dựa vào một đạo sư kim cương đủ tiêu chuẩn là cần thiết như thế nào. Chỉ đạt được hiểu biết tri thức về mật điển Vô Thượng Du Già là chưa đủ, tâm trí của chúng ta phải hấp thụ và hòa nhập với ý nghĩa thực sự mà nó muốn truyền đạt. Vì vậy, những chỉ dẫn mà chúng ta nhận được phải được trao truyền qua một chuỗi liên tục các bậc thầy mật tông đủ tiêu chuẩn, có thể được truy nguyên từ chính đạo sư của ta tới Đấng Chiến Thắng Kim Cang Trì. Điều hoàn toàn cần thiết là chúng ta phải nhận được quán đỉnh thích hợp cũng nhưu những hướng dẫn truyền khẩu từ một đạo sư kim cương đủ tiêu chuẩn như vậy.

    Giống như sự hợp nhất giữa đại lạc tự nhiên và tính không là một trong những con đường nhanh nhất và quan trọng nhất đến Phật quả, thì thân huyễn cũng vậy. Tuy nhiên, điều khó hơn nhiều để biết tại sao điều này đúng với thân huyễn, là biết tại sao nó đúng với sự hợp nhất, đó là một lý do nữa tại sao việc nương tựa vào các hướng dẫn từ một vị thầy kim cương là điều cần thiết.

    Chức năng của sự hợp nhất đại lạc tự nhiên và tính không là phá hủy những chướng ngại đối với quả toàn giác rất nhanh chóng. Khả năng thực hiện điều này phụ thuộc vào thân huyễn vì nếu sự hợp nhất của lạc và không là để phá hủy những chướng ngại này nhanh chóng, thì phải tích lũy được rất nhiều công đức. Việc thu thập công đức này được tích lũy thông qua sức mạnh chứng đắc thân huyễn. Theo Kinh, công đức được tích lũy bằng cách tuân thủ hạnh Bồ tát thanh tịnh trong ba vô lượng đại kiếp trước khi có thể thành tựu giác ngộ, nhưng trong Mật, những đại kiếp công đức này có thể được tích lũy trong một kiếp bằng cách thiền định về thân huyễn. Trong Trung Đạo, Nguyệt Xứng nói rằng bất cứ điều gì chủ yếu hỗ trợ việc đắc được Sắc Thân của đức Phật là một tập hợp công đức, và bất cứ điều gì chủ yếu hỗ trợ việc đạt được Pháp Thân của Phật là một tập hợp trí tuệ. Trong Mật, phương pháp nhanh nhất để tích lũy lượng lớn công đức là thiền định về thân huyễn, và phương pháp nhanh nhất để tích lũy trí tuệ là sự hợp nhất của lạc và không.

    Cả Kinh và Mật đều đồng ý rằng việc đạt được Phật quả tùy thuộc vào việc hoàn thành hai bộ công đức và trí tuệ. Khác biệt là trong Kinh, không thể tích lũy hai bộ này trong một pháp thiền duy nhất. Do đó, theo Kinh, khi gắn kết với thực hành tích lũy công đức, chúng ta không thể đồng thời tích lũy trí tuệ với cùng một tâm trí, còn khi tích lũy trí tuệ bằng cách thiền định nhất tâm về tính không, chúng ta không thể đồng thời tích lũy công đức. Vì vậy, trong Kinh không có thực hành hợp nhất phương tiện và trí tuệ trong một pháp thiền. Tuy nhiên, trong Mật tông, khi tâm đại lạc tự nhiên tập trung vào tính không nhất tâm, chúng ta đang tích lũy cả công đức và trí tuệ cùng một lúc. Thiền định này bao gồm cả phương tiện lẫn trí tuệ, và tính không thể tách rời của hai thứ này trong một pháp thiền là điều khiến Mật tông trở thành con đường nhanh chóng đến giác ngộ.
  6. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    NHẬN BIẾT CƠ SỞ CHỨNG ĐẮC THÂN HUYỄN


    Thân huyễn được định nghĩa là thân thể thực sự của Thần bản tôn, được trang hoàn bằng 32 tướng chính và 80 tướng phụ, được gắn kết với khí vi tế của tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng hoặc là tâm của tịnh quang nghĩa. Thân huyễn được phát triển từ khí gắn kết với tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng là thân huyễn không thanh tịnh, còn thân huyễn phát triển từ khi gắn kết với tịnh quang nghĩa là thân huyễn thanh tịnh.

    Ở đây, khác nhau giữa thanh tịnh và bất tịnh được xác định bởi việc tâm tịnh quang được gắn kết có trực tiếp chứng ngộ sự thiếu vắng tồn tại cố hữu hay không. Thân huyễn mà chúng ta đắc được trước khi trực tiếp chứng ngộ tính không bằng tâm đại lạc tự nhiên là thân huyễn bất tịnh, còn thân huyễn đắc được sau khi trực tiếp chứng ngộ tính không bằng tâm đại lạc là thân huyễn thanh tịnh. Vì vậy, trong khi hành giả đạt được thân huyễn bất tịnh vẫn chưa phải là một Đấng Tối Cao của mật tông, thì hành giả sở đắc thân huyễn thanh tịnh đã là như vậy. Do đó, thân huyễn thanh tịnh cao hơn nhiều so với thân huyễn bất tịnh.

    Ngay khi một thiền nhân đạt được thanh huyễn bất tịnh, người đó bước vào giai đoạn thành tựu thứ ba trong năm. Vì lý do này, thân huyễn bất tịnh cũng được gọi là “thân huyễn của giai đoạn thứ ba”. Khi đạt được nó, nhập định của tịnh quang ví dụ tối thượng sẽ chấm dứt và tâm đầu tiên của thứ tự đảo ngược, hình dạng đen gần đạt được sẽ xuất hiện.

    Có nhiều lý do tại sao người tu thiền đạt được thân huyễn bất tịnh vào thời điểm đó. Đầu tiên, trong khi tu tập ở giai đoạn phát sinh, thiền nhân đã có nhiều kinh nghiệm trong việc đưa trạng thái trung ấm vào con đường của Báu Thân. Ngoài ra, người thiền đã thực hành rộng rãi các giai đoạn thành tựu của việc hòa nhập với Báu Thân trong lúc thức và ngủ, và đã đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng thông qua sức mạnh của các yoga cô lập khẩu, chẳng hạn như thiền nội hỏa và trì tụng kim cương. Chính thông qua kinh nghiệm tích lũy của toàn bộ thực hành này mà thân huyễn bất tịnh đạt được khi tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng chấm dứt.

    Nhìn chung, chỉ cần hiểu về thân huyễn trên bình diện tri thức là đã là một nguồn tích lũy được nhiều công đức. Các vị thiền đức mật tông coi thân huyễn như một suối nguồn tuôn chảy khích lệ để thực hành, và như một mục tiêu xứng đáng để đạt tới. Nhờ lòng từ vô hạn của Je Tsongkhapa, những phương pháp hoàn hảo mà các thiền giả có thể chứng đắc hoàn hảo thân huyễn đã được bảo lưu. Những phương pháp này không hề bị suy suyển chút nào và được trình bày trong sáng như pha lê. Dịch giả Taktsang và Karmapa thứ tám Mikyo Dorje đều hết lời ca ngợi bản chú giải về thân huyễn của Je Tsongkhapa.

    Những phẩm chất xuất chúng của thân huyễn không thể liệt kê đầy đủ được. Ngày nay, một số người thích thú với những câu chuyện về các phép thần thông, nhưng trên thực tế, những quyền năng như bay lên không trung và thần nhãn tương đối dễ đạt được. Ví dụ, ở Ấn Độ, có rất nhiều nhà huyễn thuật có các quyền năng như vậy, nhưng họ không được xã hội tôn trọng. Mọi người đến xem họ giống như cách người phương Tây xem tivi, để giải trí. Mặc dù khán giả có thể trả một số tiền để xem một nhà huyễn thuật biểu diễn các thủ thuật, nhưng họ không nghĩ rằng: “Tôi sẽ trở thành một nhà huyễn thuật như vậy!” Thay vì trở thành một đối tượng được tôn trọng và ngưỡng mộ, những nhà huyễn thuật như vậy thường bị cảnh sát và những người khác đối xử thô lỗ. Tuy nhiên, thân huyễn là một hiện tượng hoàn toàn siêu nhiên. Một khi sở đắc nó, các quyền năng kỳ diệu ở dạng cao nhất và thanh tịnh nhất sẽ đến với chúng ta tự nhiên và dễ dàng. Vì vậy, chúng ta cực kỳ may mắn vì vẫn còn có thể tiếp cận với giáo lý vẫn còn nguyên vẹn về thân huyễn trong thời đại suy đồi này.

    Trong tác phẩm Năm Giai Đoạn Thành Tựu của Long Thọ có ba câu kệ giải thích về cơ sở để đạt được thân huyễn. Đầu tiên, Long Thọ nói rằng chúng sinh sinh ra trong luân hồi không phải do lựa chọn mà thông qua các nguyên nhân và điều kiện, trong số đó, nguyên nhân chính là tâm tịnh quang, đó là tịnh quang của cái không thứ tư hoặc toàn thể không. Thứ hai, mặc dù tịnh quang toàn thể không là nguyên nhân khiến chúng sinh phàm phu bị trói buộc trong luân hồi, nhưng đối với những Yogi thành tựu, nó lại là nguyên nhân của thân huyễn, và kết quả là, giác ngộ hoàn hảo. Thứ ba, không có người kinh nghiệm những đau khổ luân hồi nào khác ngoài cái Tôi, chỉ do bị bị suy nghĩ quy kết, dựa trên tâm và khí rất vi tế liên đới. Việc xem xét ba tuyên bố này sẽ cho thấy cách chúng chứng minh rõ ràng cơ sở để chứng đắc thân huyễn.

    Tịnh quang toàn thể không được cho là nguyên nhân tái sinh trong luân hồi, và do vậy của mọi đau khổ, bởi sự tái sinh phụ thuộc vào trạng thái trung ấm trước đó, và thứ này lại phụ thuộc vào tịnh quang toàn không của cái chết trước đó. Điều này không mâu thuẫn chút nào với khẳng định trong Kinh rằng luân hồi là do chấp ngã gây ra. Đặc điểm nổi bật của Mật là giáo lý cho rằng tâm thức mê lầm chấp ngã phụ thuộc vào luồng khí thô được gắn kết với nó. Khí thô này phát triển từ khí vi tế, khí này lại phát triển từ khi rất vi tế được gắn kết với tâm tịnh quang toàn không. Đây là lý do đằng sau tuyên bố đầu tiên rằng tịnh quang toàn không là nguyên nhân tái sinh đối với chúng sinh phàm phu.

    Trong khi tịnh quang toàn không khiến chúng sinh phàm tục phải tái sinh vào luân hồi với một thân thể ô trược, thì nó khiến các Yogi thành tựu đắc được thân của một vị Thần, thân huyễn, bên trong mandala của vị Thần đó. Nếu không sử dụng tâm tịnh quang này và khí gắn kết của nó thì sẽ không có cách nào khác để các Yogi này đắc được thân huyễn. Do đó, thực hành của họ là nhận biết tịnh quang toàn không thông qua sức mạnh của yoga cô lập khẩu, tức là thông qua thiền nội hỏa. Cuối cùng, tâm tịnh quang chuyển hóa thành tâm của thân huyễn, còn khí gắn kết của nó chuyển hóa thành chính thân huyễn. Vì vậy, tuyên bố thứ hai của Long Thọ là một dấu hiệu rõ ràng rằng khí cực vi tế mà tâm tịnh quang toàn không ngự trị chính là nền tảng để đạt được thân huyễn.

    Đối với tuyên bố thứ ba liên quan đến người kinh nghiệm đau khổ, điều này chỉ ra rằng trong khi cơ thể và tâm trí thô là những cơ sở tạm thời khiến cho cái Tôi được quy kết, thì các cơ sở chủ đạo không ngừng trú ngụ của sự quy kết là tâm rất vi tế và khí gắn kết của nó. Điều này không phủ nhận một cái ngã bị quy kết, vốn được quy kết dựa trên thân vật lý và tâm trí thô thiển. Trên thực tế, có hai loại thân: thân thô và thân vi tế. Thân thô là thân tạm thời, còn khí rất vi tế là thân của dòng tương tục không gián đoạn.

    Thân thô kệch của con người là tạm thời vì nó được tạo ra từ sự kết hợp của tinh trùng và trứng của cha mẹ nên phải được bỏ lại khi chết. Ngược lại, thân vi tế của của dòng tương tục thì không bao giờ chết. Để sử dụng một phép so sánh, nhiệt của nước nóng là tạm thời, nhưng độ ẩm của nước không bao giờ tách biệt khỏi chính nước, bất cứ nơi nào có nước thì luôn có độ ẩm. Tương tự, thân tương tục, khí rất vi tế, không bao giờ tách biệt khỏi cái ngã tương tục. Chúng ta chưa bao giờ tách biệt khỏi nó trong quá khứ và cũng sẽ không bao giờ tách biệt khỏi nó trong tương lai. Bởi vì thân này là khí rất vi tế, nên nó có bản chất nhẹ nhàng và di động. Thân thô tạm thời giống như ngôi nhà mà thân tương tục này tạm trú. Vào lúc chết, thân vi tế này rời khỏi nơi ở tạm thời của mình và chuyển sang một kiếp sống khác, giống như cách những du khách rời khỏi một khách sạn rồi chuyển đến khách sạn tiếp theo.
  7. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    CÁCH THỰC SỰ CHỨNG ĐẮC THÂN HUYỄN TRÊN CƠ SỞ NÀY


    Để đắc được thân huyễn, chúng ta phải có khả năng tách biệt thân vi tế ra khỏi thân thô thông qua sức mạnh thiền định. Có những thời điểm hai thân này tách biệt tự nhiên như lúc chết và tạm thời trong lúc ngủ, nhưng vì điều này không xảy ra thông qua sức mạnh thiền định, nên nó không dẫn đến việc đạt được thân huyễn. Tuy nhiên, các Yogi thành tựu có thể tách rời chúng lúc thức, thông qua sức mạnh thiền định giai đoạn thành tựu. Khi nào chưa làm được việc này, chúng ta không có khả năng chuyển hóa thân vi tế của mình thành thân huyễn, thân thể thực sự của Thần bản tôn.

    Có hai cách chính để tách rời các thân thô và vi tế thông qua sức mạnh thiền định. Cách đầu là chuyển di thần thức (Tạng ngữ: powa) như đã giải thích trong Sau Yoga của Naropa. Ở đây, hành giả cô lập khí rất vi tế và tâm gắn trên đó, tiếp theo đẩy chúng qua đỉnh đầu. Phương pháp này dựa trên một số thực hành quán tưởng và giữ hơi thở cái bình, và nó được lặp đi lặp lại cho đến khi các dấu hiệu thành tựu xuất hiện. Đây không phải là một thực hành quá khó, nhưng sẽ không được giải thích ở đây, vì mặc dù nó dẫn đến sự tách rời của hai thân, nhưng nó không hữu ích trong việc đạt được thân huyễn.

    Để tách rời thân thô và thân vi tế theo cách mang lại thành tựu thân huyễn phụ thuộc vào việc sử dụng tám dấu hiệu của trình tựu thuận, từ hình dạng giống ảo ảnh đến tịnh quang. Những dấu hiệu này phải được kinh nghiệm ở cấp độ sâu nhất và mạnh nhất để chúng xuất hiện với chúng ta sống động như lúc ta đang hấp hối. Đôi khi, các thiền giả chỉ kinh nghiệm tám dấu hiệu này hời hợt và không biết về các cấp độ khác nhau của kinh nghiệm này, họ lầm tưởng đã đạt được tâm cô lập thực sự của tịnh quang ví dụ tối thượng. Khi những thiền giả đó thoát khỏi định, họ lầm tưởng đã đạt được chân thân của Thần linh, và khi nhập lại vào nhập định của tịnh quang, họ cảm thấy đã đạt được sự hợp nhất thực sự của hai chân lý. Sau đó, chủ vì tâm trí trở nên sáng suốt hơn, họ tin rằng đã đạt được Phật quả. Tuy nhiên, trên thực tế, không có điều nào trong số này xảy ra.

    Cũng như các loại vàng khác nhau có giá trị khác nhau vì độ tinh khiết khác nhau, các cấp độ khác nhau của kinh nghiệm tịnh quang cũng có giá trị khác nhau. Để có thể chứng đắc thân huyễn thực sự, trước tiên chúng ta cần đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng, và để làm việc này thành công, ta phải làm quen với các cấp độ hay thứ hạng khác nhau của kinh nghiệm tịnh quang bằng cách gắn kết với pháp thiền thích hợp hết lần này tới lần khác.

    Một khi đã đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng thông qua sức mạnh thiền định, yoga của tâm cô lập này sẽ trực tiếp khiến các thân thô và vi tế tách rời. Vì chính tịnh quang toàn không của cái chết thường khiến hai thân này tách rời, nếu muốn sự tách rời này diễn ra trước khi chết, ta phải có khả năng đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng thông qua thực hành giai đoạn thành tựu. Điều này phụ thuộc vào việc đạt được khẩu cô lập thông qua yoga nội hỏa hoặc yoga trì tụng kim cương. Hai yoga này gián tiếp chịu trách nhiệm khiến hai thân thể tách rời. Tuy nhiên, bản thân yoga nội hỏa và tụng niệm kim cương không thể khiến khí bao trùm toàn thể hòa tan vào trong giọt bất hoại của luân xa tim như lúc chết, và do đó, chúng chỉ có thể dẫn chúng ta đến việc đạt được cô lập tâm của tịnh quang ví dụ không tối thượng. Nếu muốn đạt được tịnh quang ví dụ tối thượng trước khi chết, chúng ta phải dựa vào một ấn hành động.

    Khi các hành giả thành tựu thăng lên từ cô lập tâm của tịnh quang ví dụ tối thượng, họ làm với với cùng động lực mà họ thăng lên từ Pháp Thân trong quá trình thực hành hòa nhập với Báu Thân hoàn hảo để đạt được thân huyễn vì lợi ích của toàn thể chúng sinh.

    Bản chất của thân huyễn có thể được hiểu bằng cách quán chiếu mười hai phép so sánh sau đây do Thánh Thiên đưa ra trong Tập Yếu Trí Tuệ. Trong văn bản này có nói rằng thân huyễn giống như: (1) một ảo giác, (2) một phản chiếu của mặt trăng trong nước, (3) cái bóng của thân thể, (4) một ảo ảnh, (5) một giấc mơ, (6) một tiếng vang, (7) một thành phố của các chúng sinh trung ấm, (8) một hóa hiện, (9) một cầu vồng, (10) một tia sét, (11) một bong bóng nước, và (12) một ảnh phản chiếu trong gương. Những thứ này được giải thích như sau:

    (1) Một người huyễn ảo được tạo ra bởi một nhà huyễn thuật có vẻ là một người thật với tứ chi, vân vân, nhưng thật ra chỉ là một hình ảnh xuất hiện trong tâm trí được hiệu triệu thông qua sức mạnh của phép thuật và những thứ tương tự. Cũng giống như vậy, thân huyễn, mặc dù được phú cho tứ chi, vân vân, thực ra chỉ có bản chất của khí vi tế và tâm vi tế được gắn kết với nó. Khi đạt được Phật quả, không phải thân thô của ta trở thành Sắc Thân của Phật. Khi đạt được thân huyễn, chúng ta có một thân mới khác với thân thô của mình, và chính thân mới này sẽ chuyển thành Sắc Thân của đức Phật. Vì vậy, điều được nói là thân huyễn này như huyễn.

    (2) Có vô số ao, hồ, vân vân, trên mặt đất, và vào một đêm quang đãng, mỗi cái ao sẽ mang một hình ảnh phản chiếu của mặt trăng, tuy có nhiều hình ảnh phản chiếu nhưng chỉ có một mặt trăng đang được phản chiếu. Tương tự, một Yogi đã đắc thân huyễn có thể phân ra hàng ngàn thân khác nhau tùy theo nhu cầu của chúng sinh. Mặc dù chỉ có một Yogi, nhưng sự phân thân của người đó có thể chạm tới vô số chúng sinh. Hơn nữa, giống như sự phản chiếu của xuất hiện trong nhiều vũng nước cùng lúc, Yogi cũng có thể hóa hiện ra nhiều hình dạng cùng một lúc. Vì vậy, điều được nói là thân huyễn giống như hình phản chiếu của mặt trăng.

    (3) Cũng như cái bóng của thân thể có đầu, tay, chân và thân, thì thân huyễn cũng vậy, và cũng như bóng không có chất thể và không chứa các cơ quan bên trong, thì thân huyễn cũng vậy. Bên trong bóng không có khoảng trống, và cũng không có khoảng trống nào bên trong thân huyễn. Cuối cùng, cái bóng không được tạo ra bởi sự gặp gỡ giữa tinh trùng và trứng của cha mẹ, và thân huyễn cũng vậy. Do đó, điều được nói là thân huyễn giống như cái bóng của thân thể.

    (4) Thân huyễn được cho là giống như kim cương bất hoại vì nó thoát khỏi cái chết. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa thân huyễn là một pháp thường hằng. Nó vô thường vì nó thay đổi từng khoảnh khắc. Tính chất vô thường này được chứng tỏ bằng ví dụ về một ảo quang lấp lánh, cũng thay đổi từng khoảnh khắc. Vì vậy, điều được nói là thân huyễn giống như một ảo quang.

    (5) Thân giấc mơ là phép loại suy tốt nhất để hiểu về thân huyễn vì bản tính, chất thể và các nguyên nhân tạo nên thân giấc mơ rất giống với bản tính, chất thể và nguyên nhân của thân huyễn. Ngoài ra, thân giấc mơ thực sự có thể được hòa trộn với thân huyễn trong khi thực hành hòa nhập với Báu Thân trong lúc ngủ. Thân giấc mơ là thân duy nhất có thể được hội nhập với thân huyễn theo cách này, do đó, nó cho hình ảnh minh họa tốt nhất tốt nhất về sự tồn tại của thân huyễn. Khau nhau chủ yếu giữa hai thân này là thân huyễn có nhiều phẩm chất tuyệt vời mà thân giấc mơ không có. Ngoài ra, chúng rất giống nhau.

    Nếu hiểu được cách thân giấc mơ được tạo thành, cách nó khác với cơ thể vật lý thô như thế nào, cách nó hòa tan vào cơ thể vật lý khi thức dậy khỏi trạng thái ngủ mơ, và cách nó vẫn ở lại trong trạng thái không biểu lộ khi thức, chúng ta có thể hiểu được cách tất cả những điều này cũng đúng với thân huyễn. Cả thân giấc mơ và thân huyễn đều phát sinh ngay lập tức từ tịnh quang toàn thể không với hình dạng của tâm đen gần đạt được theo trình tự đảo ngược. Chúng cũng được hình thành từ cùng một chất liệu, cụ thể là khí rất vi tế. Vì vậy, việc biết về thân giấc mơ sẽ mang lại cái nhìn sâu sắc về bản tính, chất liệu và phương tiện để đắc được thân huyễn. Do đó, điều được nói là thân huyễn giống như một giấc mơ.

    (6) Một Yogi đã chứng đắc thân huyễn có thể, ví dụ, biến hóa thành một con hổ và một con chó cùng lúc. Các hình dạng của những con vật này xuất hiện với Yogi như những thực thể khác nhau và khác chính thân thể người đó. Tuy nhiên, trên thực tế, cả hai đều phát sinh từ chính Yogi. Tuy là các hóa hiện, chúng dường như hiện hữu giống như những sự vật bên ngoài Yogi. Điều này tương tự trải nghiệm của một người về tiếng vọng từ chính giọng nói của mình. Có vẻ như âm thanh đến từ bên ngoài, trong khi thực tế nó xuất phát từ chính người đó. Do vậy, điều được nói là thân huyễn giống như tiếng vọng.

    (7) Đối với chúng sinh trung ấm, được gọi là những kẻ ăn mùi vì họ được nuôi dưỡng bởi mùi hương, những thành phố mà họ sống dường như xuất hiện ngay lập tức và cùng một lúc, rồi khi chấm dứt, chúng dường như biến mất trong tích tắc. Tương tự, một Yogi đắc được thân huyễn cảm thấy rằng mandala của mình với các vị bản tôn liên quan xuất hiện ngay lập tức, và khi chấm dứt, nó dường như cũng biến mất trong khoảnh khắc. Do đó, điều được nói là thân huyễn giống như một thành phố của các chúng sinh trung ấm.

    (8) Ví dụ một người có thần thông hóa hiện ra nhiều con hổ, nhưng trên thực tế tất cả chẳng là gì ngoài chính anh ta. Tương tự, một Yogi đắc thân huyễn lưu xuất ra các hóa thân, toàn bộ các chúng sinh có vẻ đông đảo này thực ra chỉ là chính Yogi. Do đó, điều được nói là thân huyễn giống như phép hóa hiện.

    (9) Cũng như màu sắc của cầu vồng không trộn lẫn và cầu vồng không có tính chất cản trở va chạm, cũng vậy đối với thân huyễn. Do đó, điều được nói là thân huyễn giống như cầu vồng.

    (10) Cũng như tia chớp từ giữa đám mây mà ra, thân huyễn lưu xuất từ thân thô cũ. Cho nên nói rằng thân huyễn giống như tia chớp.

    (11) Cũng như bọt nước tức thời sinh ra từ nước, và mang bản chất của nước, thân huyễn cũng tức thời phát sinh từ trạng thái tính không, và mang bản chất của tính không. Vì vậy, điều được nói là thân huyễn giống như bọt nước.

    (12) Khi một người đứng trước gương, mọi bộ phận của hình ảnh phản chiếu: cơ thể, tay chân, vân vân, biểu lộ ngay lập tức và rất rõ ràng sáng tỏ. Tương tự, thân huyễn và mọi bộ phận của nó biểu lộ ngay lập tức và có tính trong suốt, rõ ràng. Vì vậy, điều được nói là thân huyễn giống như một ảnh phản chiếu.

    Trong giáo lý của Kinh, mười hai ví dụ này được dùng để chứng minh cách mà mọi hiện tượng đều không có sự tồn tại cố hữu, nhưng trong Mật, chúng được dùng để giải thích về thân huyễn.

    Có nhiều từ đồng nghĩa khác cho thân huyễn được đưa ra trong mật điển Bí Mật Tập Hội, và một lời giải thích ngắn gọn về các từ này giúp chúng ta hiểu được những phẩm chất tuyệt vời của thân huyễn.

    Thân huyễn đôi khi được gọi là “phúc lành của tự ngã”. Ở đây, “ngã” nên được hiểu là thứ bi quy kết từ tâm khí rất vi tế, còn “phúc lành” là sự chuyển hóa từ hai cơ sở của sự quy kết này thành thân huyễn và tâm của thân huyễn. Đối với bản thân thuật ngữ “thân huyễn”, nó ám chỉ rằng đó là một thân giống như huyễn ảo, như đã giải thích trong danh mục 12 ẩn dụ. Thân huyễn cũng được gọi là “chân lý quy ước” vì nó là tương đối, không phải là tối hậu.

    Ba thuật ngữ khác cho thân huyễn là “Báu Thân Hoàn Hảo”, “Kim Cang Tát Đỏa” và “Kim Cang Trì”. Điều này không có nghĩa chính thân huyễn là Báu Thân kết quả thực sự, Vajrasattava thực sự, Vajradhara thực sự, mà chỉ đơn giản là báu thân con đường, vân vân. Cuối cùng, thân huyễn cũng được gọi là “thân kim cương” vì thân huyễn bất tịnh giống như thân kim cương, trong khi thân huyễn thanh tịnh chính là thân kim cương thực sự.

    Những lợi ích của việc chứng đắc thân huyễn được liệt kê trong mật điển Bí Mật Tập Hội cũng như trong Năm Giai Đoạn Thành TựuTích Hợp Hành Động. Trong các văn bản này có nói rằng thân huyễn được trang hoàng bằng 32 dấu hiệu chính và 80 dấu hiệu phụ, là đối tượng cúng dường cho toàn thể nhân loại và chư thiên, có thể đạt được giàu có và tài sản dễ dàng, thoát khỏi nghèo đói, bệnh tật, tuổi già, cái chết, tái sinh, và mọi đau khổ của luân hồi, có thể hóa hiện thành nhiều hình tướng khác nhau để mang lại lợi ích cho người khác. Lợi ích lớn nhất mà một người chứng đắc thân huyễn có được là chắc chắn sẽ đạt được Phật quả trong cùng một kiếp sống.
  8. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    TỊNH QUANG VÀ HỢP NHẤT


    GIẢI THÍCH CÁC GIAI ĐOẠN ĐẠT ĐƯỢC TỊNH QUANG NGHĨA LIÊN QUAN ĐẾN CHÂN LÝ TỐI HẬU


    Mục này có ba phần:

    1. Giải thích phương pháp tu dưỡng

    2. Con đường tu dưỡng bằng cách dựa vào phương pháp này

    3. Lý do tại sao chỉ có tịnh quang đóng vai trò như pháp đối trị trực tiếp cho cả hai, vô minh do tri kiến sai lầm, và vô minh bẩm sinh


    GIẢI THÍCH PHƯƠNG PHÁP TU DƯỠNG


    Người ta nói rằng sự chứng ngộ của một thiền sinh Mật điển ở giai đoạn phát sinh gần như ngang bằng với chứng ngộ của một thiền giả Kinh điển đã đạt đến bát địa của một Bồ Tát siêu việt, trong khi chứng ngộ của người sở đắc thân huyễn bất tịnh ngang với một Bồ tát thập địa. Trong hệ thống Kinh, trở thành một chúng sinh siêu phàm khi chúng ta trực tiếp chứng ngộ tính không bằng ý thức thô, nhưng theo hệ thống Mật, ta không trở thành chúng sinh siêu việt cho đến khi trực tiếp chứng ngộ tính không bằng tâm đại lạc tự nhiên. Do đó, một khi đắc được thân huyễn bất tịnh, chúng ta nên cố gắng đạt được chứng ngộ về tịnh quang nghĩa, nhờ đó tính không được nhận ra trực tiếp mà không dựa vào một hình ảnh chung, bởi các tâm vi tế nhất. Đây chính là ý nghĩa của sự biểu lộ tịnh quang tối thượng.

    Thực hành thâm nhập vào những điểm chính xác của thân thể mình thông qua thiền định về khí, mạch, giọt, như trong các yoga về nội hỏa và tụng niệm kim cương, vốn không đủ mạnh để dẫn đến thành tựu về tịnh quang nghĩa. Vì vậy, những thiền định này được cho là hoàn tất khi chúng ta đắc được thân huyễn bất tịnh. Tại thời điểm này, cần phải tuân thủ phương pháp bên trong hoặc bên ngoài để đạt được tịnh quang nghĩa. Phương pháp bên trong bao gồm hai thực hành được gọi là “hoại diệt kế tiếp”, và “nắm giữ toàn thân”. Phương pháp bên ngoài là yoga dựa vào một ấn hành động. Ba thực hành này bây giờ sẽ được giải thích ngắn gọn.

    Để đạt được tập trung cho hoại diệt kế tiếp, trước tiên quán tưởng toàn thể vũ trụ và mọi cư dân của nó tan chảy thành ánh sáng rồi sau đó quán rằng ánh sáng này hòa tan vào chúng ta. Đến lượt chúng ta, tan biến từ dưới và trên cùng một lúc, giống như ngọn nến cháy từ cả hai đầu. Dần dần toàn bộ cơ thể chúng ta tan biến thành giọt bất hoại ở luân xa tim. Với sự tan biến này, tâm rất vi tế của tịnh quang sẽ xuất hiện, sau đó chúng ta giữ trạng thái đó nhất tâm.

    Bắt đầu phương pháp này bằng cách quán tưởng thân huyễn bất tịnh như một thể trí tuệ (ở phương diện Thần bản tôn riêng của chúng ta, nhưng màu trắng) ngự trong luân xa tim trong sắc uẩn cũ của ta. Ví dụ, nếu Thần bản tôn riêng của ta là Heruka, quán tưởng thân huyễn như một Herula màu trắng trong trái tim của sắc uẩn cũ của mình, bản thân nó được quán là Heruka của thể hứa nguyện màu xanh lam.

    Là một Heruka thể hứa nguyện, giờ đây chúng ta có thân huyễn màu trắng màu trắng trong tim mình. Từ trái tim của thân huyễn này, vô số tia sáng xanh lam chiếu ra và thấm nhuần toàn thể vũ trụ cùng toàn bộ cư dân của nó. Ánh sáng này thanh lọc mọi tiêu cực, dù tinh tế đến đâu, và khiến mọi nơi chốn cùng chúng sinh tan chảy thành ánh sáng. Sau đó, ánh sáng này tan biến trở lại vào trái tim của thân huyễn Heruka. Heruka thể hứa nguyện xanh lam sau đó tan chảy từ chân và đỉnh đầu cùng một lúc, sau đó thể trí tuệ trắng cũng làm như vậy. Cuối cùng, không còn gì sót lại ngoại giọt bất hoại.

    Một khi đã có được thân huyễn bất tịnh, chúng ta sẽ thấy rất dễ dàng để hòa tan tất cả các luồng khí vào giọt bất hoại thông qua sức mạnh thiền định này vì ta đã hoàn tát các yoga cô lập khẩu, còn khí của chúng ra rất vi tế và dễ kiểm soát. Kết quả của sự hòa tan này, ta sẽ kinh nghiệm tám dấu hiệu từ hình dạng giống ảo ảnh đến tịnh quang, sống động như lúc ta đang hấp hối. Ngoài ra, ta trải nghiệm từng dấu hiệu trong tám dấu hiệu này kết hợp với tính không. Cuối cùng, khi tịnh quang toàn không xuất hiện, ta thiền định nhất tâm về tính không trong một thời gian dài. Bằng cách thực hành thiền này nhiều lần, tâm tịnh quang toàn không của ta cuối cùng sẽ trực tiếp chứng ngộ tính không và nhờ đó ta sẽ đạt được tịnh quang nghĩa.

    Phương pháp bên trong khác là chú tâm giữ toàn thân. Theo đó, toàn bộ thân thể tan thành ánh sáng, tan thành hư không, và hư không đó được giữ bằng sự tập trung. Trong thực hành này, thể hứa nguyện chỉ đơn giản tan chảy đồng thời từ chân và đỉnh đầu vào giọt bất hoại mà không cần phát ra ánh sáng từ thân huyễn làm tan biến vũ trụ cùng các cư dân của nó trước. Khi ánh sáng của thân thể tan chảy vào giọt bất hoại, tịnh quang toàn không sẽ xuất hiện và, như trước, chúng ta sử dụng tâm rất vi tế này để thiền định nhất tâm về hư không. Một lần nữa, sau khi thực hành nhiều lần, điều này sẽ dẫn đến việc đạt được tịnh quang nghĩa. Hai sự chú tâm nội tại này của hoại diệt kế tiếp và giữ toàn thân cũng được thực hiện trong giai đoạn phát sinh, nhưng chúng yếu hơn vào lúc đó.

    Với phương pháp bên ngoài, chính yoga của ấn hành động khiến mọi luồng khí hòa tan vào giọt bất hoại, với kết quả là tám dấu hiệu xuất hiện sống động như trong lúc chết. Như trước, những dấu hiệu này nên được kinh nghiệm kết hợp với thiền về tính không để khi tịnh quang toàn không xuất hiện, chúng ta có thể tập trung nhất tâm vào tính không trong thời gian dài với chính tâm vi tế đó. Một Yogi có thể phát lộ tịnh quang trong mối tương giao với một ấn hành động sẽ trải nghiệm đại lạc tự nhiên bất tận và những ấn chứng bên trong khác. Chính vì lý do này mà Longdrol Lama đã nói rằng đối với một thiền giả thành tựu, ấn hành động giống một con bò như ý mà ta nhận được nguồn sữa vô tận.


    TU DƯỠNG BẰNG CÁCH DỰA VÀO PHƯƠNG PHÁP NÀY


    Các văn bản mật tông nói rằng người tu thiền sẽ đạt được tịnh quang nghĩa vào lúc bình minh, đó cũng là thời điểm đạt được giác ngộ. Ví dụ, Phật Thích Ca, sau khi ngồi dưới gốc cây bồ đề ở Bodh Gaya, đã chứng minh cách chế ngự quần ma vào buổi tối, nhập định lúc nửa đêm, rồi đạt được giác ngộ trọn vẹn lúc bình minh.

    Khi một hành giả đã đắc thân huyễn bất tịnh thiền nhiều lần theo các phương pháp giải thích ở trên, cuối cùng người đó sẽ nhận được những giấc mơ và hình ảnh chỉ ra rằng việc đạt được tịnh quang nghĩa đã gần kề. Khi các dấu hiệu đặc biệt này xuất hiện, thiền giả sẽ dâng cúng các lễ vật cầu kỳ cho đạo sư và cố gắng làm hài lòng ngài. Sau đó, vào lúc nửa đêm, đệ tử sẽ nhận được quán đỉnh thứ ba là quán đỉnh ấn trí tuệ, trực tiếp từ thầy mình. Trên thực tế, thiền giả đã nhận được quán đỉnh này trước đó, nhưng vì thiếu tri kiến thanh tịnh vào thời điểm đó nên ấn hành động được trao truyền lúc đó chỉ là một ấn được quán tưởng. Tuy nhiên lúc này, thiền giả sắp đạt được tịnh quang nghĩa, người đó đủ điều kiện để nhận được một ấn hành động thực sự và quán đỉnh ấn trí tuệ thực sự.

    Khi Yogi ôm ấp ấn hành động, người đó sẽ kinh nghiệm tám dấu hiệu sống động như lúc chết. Như đã giải thích trước đây, những dấu hiệu này được trải nghiệm kết hợp với tính không, và khi tịnh quang toàn không nhận ra tính không trực tiếp, thiền giả sẽ đồng thời đạt được tịnh quang nghĩa.

    Vì tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng vẫn còn có một hình tướng nhị nguyên rất tinh tế nên nó không thể trực tiếp chứng ngộ tính không, nhưng khi đạt được tịnh quang nghĩa lúc bình minh, mọi khái niệm vi tế tan biến và Yogi đạt giác ngộ trực tiếp về tính không. Do đó, người tu thiền thành tựu con đường mật tông của cái thấy và trở thành một Thượng Sư Mật Tông. Với việc đạt được tịnh quang nghĩa, thân huyễn bất tịnh biến mất như cầu vồng trên bầu trời. Chính vì chấm dứt theo cách này mà thân huyễn bất tịnh được cho là giống như thân kim cương, nhưng nó không phải là thân kim cương thật sự. Khi thiền nhân lần đầu chứng tịnh quang nghĩa từ trạng thái nhập định, người đó sẽ xuất sinh trong thân tướng mới của thân huyễn thanh tịnh.

    Lý do tại sao chỉ có tịnh quang đóng vai trò như pháp đối trị trực tiếp cho cả hai, vô minh do tri kiến sai lầm, và vô minh bẩm sinh

    Theo thừa Ba La Mật, khi đạt được con đường thấy biết bằng cách trực tiếp chứng ngộ tính không, chúng ta trở thành Bồ tát Cao cả ở địa thứ nhất.

    Cũng theo Kinh, khi vẫn đang trên con đường của cái thấy, chúng ta chỉ từ bỏ vô mình hình thành bởi tri kiến. Chúng ta không khởi sự từ bỏ vô minh bẩm sinh cho đến lúc đi vào con đường thiền định, và sẽ không từ bỏ chúng hoàn toàn cho đến khi đạt được địa thứ tám. Tuy nhiên, theo Mật, một Yogi đã đạt được tịnh quang nghĩa có thể từ bỏ cả hai loại vô minh cùng lúc bằng một con đường. Làm sao chuyện này có thể xảy ra?

    Bất cứ ai đạt được tịnh quang nghĩa đều đã trải qua thiền định sâu rộng trước đó về cô lập tâm của tịnh quang ví dụ tối thượng và thân huyễn bất tịnh, do đó đã tích tập nhiều bộ công đức và trí tuệ. Như đã đề cập, trí tuệ được tích lũy thông qua sức mạnh cô lập tâm của tịnh quang ví dụ tối thượng, còn công đức tích lũy thông qua sức mạnh của thân huyễn. Được trao quyền bởi hai bộ tích lũy này, tịnh quang nghĩa có sức mạnh phi thường. Chính sức mạnh vượt trội này cho phép tâm của tịnh quang nghĩa phá hủy cả hai loại vô minh cùng một lúc trong một lần thiền duy nhất. Khả năng này là độc nhất đối trong số các thực hành của Tối thượng Mật tông.

    Khi Yogi xuất hiện từ trạng thái tịnh quang nghĩa, tâm đen gần đạt được của trật tự đảo ngược phát sinh. Vào lúc đó, người này đắc được thân huyễn thanh tịnh và con đường thiền định của mật tông. Hơn nữa, Yogi này từ nay đã loại trừ các chướng ngại do cả tri kiến và bẩm sinh đối với giải thoát và do đó đã trở thành Đấng Hủy Diệt Kẻ Thù Bằng Thần Chú.

    Tịnh quang nghĩa được biết đến với nhiều tên gọi. Cả nó và tịnh quang ví dụ đều được gọi là “Heruka xác định”, Herula được diễn giải là thân bản tôn có thân màu xanh lam. Tịnh quang nghĩa còn được biết đến là “Vùng đất Dakini bên trong”. Trong hai loại cõi Dakini, bên ngoài và bên trong, loại trước, là Tịnh Độ của Vajrayogini, đạt được nhờ vào các thực hành giai đoạn phát sinh, còn loại sau phụ thuộc vào thực hành giai đoạn thành tựu. Các thuật ngữ “tịnh quang nghĩa” và “cõi dakini bên trong” là đồng nghĩa.

    Một Yogi đạt được cõi dakini bên trong cũng đã đạt được cõi dakini bên ngoài, bởi vì thông qua sức mạnh thanh lọc tâm trí của mình bên trong, môi trường bên ngoài cũng được thanh lọc. Một khi tâm trí thoát khỏi mọi ô trược, sẽ không còn những hình tướng bất tịnh bên ngoài nào nữa. Điều này đúng với cả Kinh và Mật. Do đó, Yogi đạt được tịnh quang nghĩa thì đã đến Tịnh Độ Vajrayogini. Cõi Tịnh này không phải là một vị trí địa lý xa cách, có thể vươn tới chỉ bằng cách thực hành giai đoạn phát sinh và thành tựu, nhưng chừng nào tâm trí chúng ta còn bị phiền não bởi những thứ bất tịnh thì sẽ hoàn toàn không thể nhận thức được cõi đó. Vì vậy, để đến được Tịnh Độ, điều rất quan trọng là phải thực hành cô lập thân, từ đó ngăn ngừa các hình tướng phàm tục phát sinh.
  9. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    GIẢI THÍCH THỰC SỰ VỀ ĐẠI ẤN HỢP NHẤT HAI CHÂN LÝ


    Mục này có hai phần:

    1. Giới thiệu về sự hợp nhất

    2. Chỉ ra các giai đoạn dần thành tựu


    Giới thiệu về sự hợp nhất


    Đại Ấn, tức sự hợp nhất hai chân lý, còn được gọi là “sự hợp nhất cần học”. Sự Hợp Nhất Không Học Nữa được đạt tới ngay tại khoảnh khắc đầu tiên của Con Đường Vô Học, tức là khoảnh khắc đầu tiên của Phật quả.

    Như đã đề cập, sự hợp nhất cần học là giai đoạn thứ năm trong năm giai đoạn thành tựu. Nó phụ thuộc vào giai đoạn thứ tư, đạt được ngay khi thành tựu tịnh quang nghĩa. Giai đoạn này lại phụ thuộc vào giai đoạn thứ ba, đạt được ngay khi đắc thân huyễn bất tịnh. Điều này phụ thuộc giai đoạn hai, yoga cô lập tâm, và điều này phụ thuộc giai đoạn một, yoga cô lập khẩu, thứ lại phụ thuộc vào việc đã thực hành cô lập thân. Như vậy, cả năm giai đoạn đều liên quan đến nhau trong một chuỗi nhân quả. Điều quan trọng là phải hiểu ý nghĩa chính xác của từng giai đoạn trong năm giai đoạn này và không bị nhầm lẫn bởi tên gọi của chúng.

    Thuật ngữ “hợp nhất” có thể ám chỉ nhiều thứ khác nhau: sự hợp nhất của hai chân lý, hợp nhất của lạc và không, hợp nhất thân và tâm, vân vân. Ở đây, nó ám chỉ sự hợp nhất của hai chân lý. Mặc dù chúng có cùng tên với hai chân lý trong Kinh, nhưng hai chân lý này không nên được hiểu theo cùng một cách. Theo Kim Cương Thừa Đại Ấn, thân huyễn thanh tịnh là chân lý quy ước, còn tịnh quang nghĩa là chân lý tối hậu. Nhìn chung, theo Kinh, bất cứ hiện tượng nào ngoài tính không đều là chân lý quy ước. Trong Mật, vì thiền về thân huyễn nhấn mạnh đến chân lý quy ước, nên thân huyễn được gọi như vậy. Tương tự, vì thiền về tịnh quang nhấn mạnh đến tính không, nên được gọi là “chân lý tối hậu”, nhưng thực ra nó không phải là chân lý tối hậu vì nó là tâm trí, và mọi tâm trí đều là chân lý quy ước. Chính đối tượng của tâm này mới là chân lý tối hậu.

    Từ tiếng Phạn của “hợp nhất” là “yogananda”, trong đó “yoga” nghĩa là “hai”, còn “nanda” nghĩa là “đồng thời tập hợp” hay “không hai”. Ở đây, nó ám chỉ sự hợp nhất của thân huyễn thanh tịnh và tịnh quang nghĩa, và thực tế là hai yếu tố này được tập hợp lại cùng một lúc trong dòng tương tục của một người. Một chúng sinh bình thường đồng thời sở hữu thân và tâm, và chúng cùng nhau tạo thành cơ sở mà người đó được quy kết. Trong trường hợp Yogi đã đạt đến giai đoạn thứ năm, thân người đó là thân huyễn thanh tịnh, còn tâm người đó là tịnh quang nghĩa. Hai thứ này cùng nhau là cơ sở mà con người của Yogi đó được quy kết.


    Chỉ ra các giai đoạn dần thành tựu


    Một số văn bản nói rằng sự hợp nhất này đạt được khi tâm của hình dạng trắng đảo ngược chấm dứt, nhưng điều này không đúng. Thân huyễn thanh tịnh phát triển từ khí rất vi tế mà tâm tịnh quang nghĩa ngự trên đó, nó được đạt tới tự động, không cần nỗ lực ngay khi tâm này chấm dứt. Vì vậy, thân huyễn thanh tịnh đạt được ngay khoảnh khắc đầu tiên của tâm đen gần đạt của thứ tự đảo ngược.

    Thân huyễn là một thân mới, khi Yogi mới đắc được nó, người ấy không còn tâm tịnh quang nghĩa nữa. Như đã giải thích, tâm đó chấm dứt ngay khi tâm đen gần đạt được theo thứ tự đảo ngược xuất hiện. Trong cùng khóa thiền đó, Yogi nhân thức được các dấu hiệu đảo ngược còn lại, bao gồm cả hình dạng như ảo ảnh. Sau đó, người ấy tham gia vào các hoạt động thành tựu kế tiếp trong khi vẫn sở hữu thân huyễn thanh tịnh, không ngừng.

    Sau đó, bằng cách dựa vào một trong những phương pháp bên trong hoặc bên ngoài đã đề cập, hành giả sẽ kinh nghiềm mọi dấu hiệu tuần tự, từ hình dạng như ảo ảnh cho đến tịnh quang toàn không. Hành giả kinh nghiệm những dấu hiệu này kết hợp với thiền về tính không, và khi nhận thức được dấu hiệu toàn không, tịnh quang nghĩa lại hiển lộ. Lúc này, hành giả đạt được Đại Ấn, là sự hợp nhất hai chân lý, vì hành giả đã hội tụ đồng thời thân huyễn thanh tịnh và tịnh quang nghĩa. Tuy đã đạt được sự hợp nhất cần học, hành giả vẫn sẽ phát sinh từ tịnh quang nghĩa một lần nữa. Trước khi đạt Phật quả, vẫn còn những pháp tu khác cần thực hành.

    Thân huyễn của một thiền giả hóa hiện tịnh quang nghĩa được gọi là “thân hợp nhất”. Khi đã đắc thân huyễn thanh tịnh, chúng ta có thể hóa hiện theo hai cách. Một là hóa thân thành nhiều phương diện khác nhau để phù hợp với như cầu cụ thể của chúng sinh, còn cách khác là đề thân huyễn thanh tịnh của chúng ta, dưới hình dạng của một thể trí tuệ, nhập vào sắc uẩn cũ của mình để có thể tiếp tục biểu lộ thân thô này cho người khác và cùng với nó tham gia vào các hoạt động lợi lạc như thuyết giảng Pháp. Trong trường hợp sau, thân thô giống như một ngôi nhà còn thân huyễn thanh tịnh giống như một người sống trong đó. Một cách so sánh khác, thân huyễn thanh tịnh giống như một việc ngọc quý và sắc uẩn cũ giống như một chiếc rương đựng châu báu, mặc dù ai cũng có thể nhìn thấy vật chứa, tức thân thô, nhưng rất ít người biết có một kho báu quý giá bên trong. Khi Long Thọ đắc được thân hợp nhất, ngài đi từ nơi này đến nơi khác để giảng Pháp cho nhiều đệ tử của mình. Khi chúng sinh bình thường thấy ngài, họ chỉ thấy một ông sư khiêm nhường, họ không nhận ra trong tim ngài, thân huyễn thanh tịnh của ngài cư ngụ với hình dáng của một thể trí tuệ. Nhiều bậc đạo sư khác như Gyalwa Ensapa và yogi vĩ đại Dharmavajra cũng thành tựu thân hợp nhất. Một trong những người nổi tiếng nhất là Milarepa, mặc dù việc thành tựu thân hợp nhất đã giải thoát ông khỏi cảnh nghèo đói, nhưng ông vẫn đi từ làng này sang làng khác để tìm kiếm thức ăn. Cơ thể vật lý của ông gầy gò đến mức mọi người thương hại, nghĩ rằng ông là một gã ăn xin nghèo khổ. Tuy nhiên, khi qua đời và thi thể được hỏa táng, nhiều dấu hiệu kỳ diệu xuất hiện chứng thực đạo hạnh vĩ đại của ông. Dù sao, ngay cả những dấu hiệu này cũng không được mọi người nhìn nhận giống nhau, những người khác nhau thấy những điều này khác nhau tuy thuộc trình độ phát triển tinh thần riêng của họ. Nếu Milarepa chỉ được đánh giá từ góc độ bên ngoài thì sẽ rất khó để hiểu rằng ông là một chúng sinh giác ngộ đầy đủ.

    Sắc uẩn cũ của người đã đắc thân huyễn không xuất hiện trước mắt mọi người khác biệt so với trước khi thành tựu. Ví dụ, nếu một người đã quen biết nhiều năm thành tựu thân hợp nhất, chúng ta sẽ không thể nhận ra bất cứ khác biệt nào trong diện mạo của người bạn đó, trừ khi ta cũng đã thành tựu thân huyễn. Tuy nhiên, trên thực tế, thân thật sự của người bạn đó giờ đây chính là thân huyễn thanh tịnh, còn tâm thật sự chính là tịnh quang. Chỉ để giúp đỡ những người không thể nhận biết được thân tướng thật sự của mình, thiền giả mới giữ lại và hiển lộ thân tướng thô cũ.

    Trong Cúng Dường Đạo Sư, đạo sư được quán tưởng dưới hình dáng bên ngoài của một tu sĩ với đấng chiến thắng Kim Cang Trì ở tim ngài và chữ HUM ở tim ngài. Quán tưởng này tượng trưng cho ba bậc Chân Ngôn Bí Mật: thân tướng bên ngoài là thể hứa nguyện, Kim Cương Trì là thể trí tuệ, còn chữ HUM là thể thiền định. Ngoài ra, thể hứa nguyện là thân vật lý của Đạo sự, thể trí tuệ là thân huyễn thanh tịnh của ngài (chân thân của ngài), và thể thiền định là tịnh quang nghĩa của ngài (chân tâm của ngài). Một khi hiểu được sự tồn tại của thân hợp nhất này, sẽ không khó để nhận ra đạo sư của chúng ta là một vị Phật thực sự.
  10. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    ĐẠI ẤN KẾT QUẢ

    CÁCH THÀNH TỰU ĐẠI ẤN KẾT QUẢ HỢP NHẤT CỦA KHÔNG HỌC NỮA, TRẠNG THÁI SỞ HỮU BẢY PHẨM CHẤT NỔI BẬT CỦA ÔM ẤP


    Phần giải thích về các pháp thiền Đại Ấn nguyên nhân đã hoàn tất, bao gồm cả hướng dẫn về hợp nhất cần học. Mục đích của pháp tu Đại Thừa là đạt đến giác ngộ viên mãn: Hợp Nhất Không Cần Học Nữa. Pháp Đại Ấn kết quả này giờ đây được trình bày thành năm phần:

    1. Nơi chốn đạt được Phật quả

    2. Cơ sở đạt được Phật quả

    3. Con đường đạt được Phật quả

    4. Các phẩm chất tốt đẹp của một vị Phật

    5. Giải thích mối quan hệ giữa thứ tự thuận và nghịch


    NƠI ĐẠT ĐƯỢC PHẬT QUẢ

    Theo Mật tông, có ba nơi có thể đạt được Phật quả: (1) Cõi Tịnh Độ Sắc Cứu Cánh Thiên Akanisha, (2) cõi Dục, và (3) một nơi không phải hai cõi trên. Tuy nhiên, trong Kinh Đại Thừa, điều được khẳng định là chúng ta chỉ có thể đạt đến quả vị Phật viên mãn ở Akanisha. Xét rằng chính đức Phật Thích Ca đã đưa ra cả hai khẳng định, vậy cái nào được chấp nhận là đúng? Có mâu thuẫn giữa Kinh và Mật không? Chẳng có mâu thuẫn nào cả, vì lời khẳng định của đức Phật rằng giác ngộ viên mãn chỉ có thể đạt được ở Akanisha được đưa ra với mục đích nhắm đến các đệ tử có tâm trí yếu kém hoặc không đủ khả năng thực hành tối thượng Mật tông. Tuy nhiên, đối với những người có khả năng tu luyện Tối Thượng Du Già Mật, đức Phật dạy rừng sự giác ngộ có thể đạt được ngay cả khi vẫn còn ở cõi Dục. Do đó, không có sự khác biệt giữa hai lời khẳng định này, chỉ vì chúng dành cho những chúng sinh có căn cơ khác nhau nên mới có sự mâu thuẫn.

    Giáo lý Mật tông của đức Phật truyền đạt ý định tối hậu của ngài theo cùng cách mà hệ thống Trung Quán Cụ Duyện truyền đạt quan kiến tối thượng của ngài. Đức Phật đã dạy bốn hệ thống triết học khác nhau tùy theo năng lực khác nhau của các đệ tử, và mỗi hệ thống được trình bày như một phương pháp để chứng ngộ tính không. Mặc dù bốn hệ thống này có vẻ mâu thuẫn với nhau, nhưng thực ra chúng cung cấp một trình tự tu hành theo thứ tự, nhờ đó chúng ta cuối cùng có thể đạt được quan kiến đúng đắn về tính không. Cách duy nhất để chứng minh hệ thống Trung Quán Cụ Duyên là hoàn toàn đúng đắn, là thông qua lý luận logic và kinh nghiệm cá nhân. Tương tự, Mật tông được chứng minh là phương pháp cao nhất bởi thực tế là những người có khả năng tu luyện Yoga Tối Thượng Mật có thể đạt được Phật quả toàn thiện chỉ trong một kiếp. Quả thực, chỉ thông qua thực hành Yoga Tối Thượng Mật, chúng ta mới có thể đạo được Phật quả hoàn hảo.

    Theo mật tông, Phật quả đạt được ở cõi Akanishta bởi một vị Bồ tát thập địa thông qua các con đường Kinh điển của Thừa Ba La Mật. Một vị Bồ tát như vậy sẽ không thể vượt qua địa thứ mười nếu không thực hành mật điển vô thượng. Vì một vị Bồ tát như vậy sẽ không thể đạt được Phật quả nếu không được nhận các quán đỉnh mật tông và bước vào các con đường thực sự của mật điển vô thượng yoga, nên tại thời điểm này, vị ấy sẽ nhận các quán đỉnh này rồi sau đó đạt được giác ngộ ở cõi Akanishta.

    Nếu hành giả là người đã thực hành hai giai đoạn của mật tông ngay từ đầu và sẽ đạt được giác ngộ ngay trong kiến sống đó, thì chắc chắn người đó sẽ đạt được Phật quả trong cõi dục. Ví dụ ba yogi được đề cập trước đây: Gyalwa Ensapa, Dharmavajra, và Milarepa, đều đã đắc Phật quả ở Tây Tạng.

    Cuối cùng, nơi chốn thứ ba mà Phật quả có thể đạt được không phải cõi Akanishta hay cõi Dục. Phật quả được đạt đến ở đây bởi một hành giả mật tông, người chứng tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng vào lúc chết. Khi tịnh quang của cái chết chấm dứt, hành giả như vậy sẽ đắc thân huyễn thay vì nhập vào một thân trung ấm thông thường. Chính với thân huyễn này, ở một nơi không phải Akanishta hay cõi Dục, mà một vị Bồ tát như vậy sẽ đạt được Phật quả.

    Ngoài ba loại chúng sinh này, không có loại chúng sinh nào khác có thể đạt được Phật quả và không có nơi nào khác có thể thành tựu giác ngộ.


    CỞ SỞ THÀNH TỰU PHẬT QUẢ

    Có ba cõi trong luân hồi: dục, sắc, vô sắc. Trong toàn thể chúng sinh cõi dục, chỉ có con người mới có thể đạt đến Phật quả trong một kiếp sống, bởi vì chỉ có con người mới được phú cho những điều kiện tiên quyết về thể chất là sáu nguyên tố đã được liêt kê ở trên.

    Trong số chúng sinh cõi Sắc, chỉ có Bồ tát thập địa ngự tại Akanishta mới có thể đạt giác ngộ thông qua con đường Mật tông. Chúng sinh cõi Vô Sắc không thể đi tới giác ngộ thông qua con đường Kinh và Mật.


    CÁCH ĐẠT ĐƯỢC PHẬT QUẢ

    Phần giải thích này được chia làm ba phần, tương ứng với ba loại thực thể được mô tả ở trên:

    1. Cách đạt được Phật quả trong Akanishta

    2. Cách đạt Phật quả trong cõi Dục

    3. Cách đạt Phật quả ở một nơi không phải cả hai


    Cách đạt được Phật quả trong Akanishta


    Trước đây từng đề cập rằng để tu hành Yoga tối thượng mật, một người phải có sáu nguyên tố nằm trong cơ thể nhân loại. Tuy nhiên, Bồ tát thập địa trong Akanishta lại là một ngoại lệ, vì tuy thân thể người đó là một vị thần cõi sắc giới, nhưng vẫn chứa đựng những giọt đỏ và trắng, nhờ đó có thể kinh nghiệm đại lạc tự nhiên phát sinh nhờ vào những nguyên tố này. Vì vậy, ngài không phải là một vị thiên thông thường của cõi sắc.

    Khi một bồ tát như vậy đang an trú trên địa thứ mười, chư Phật mười phương tụ họp quanh ngài và khuyến khích ngài bước vào con đường mật tông. Chư vị chỉ ra rằng sự chú tâm thiền định của ngài không đủ mạnh để từ bỏ những chướng ngại đối với sự toàn tri và đưa ngài đến giác ngộ, chỉ có tịnh quang nghĩa mới có sức mạnh này. Sau đó, chư vị ban cho ngài quán đỉnh ấn trí tuệ và trao cho ngài ấn hành động. Sau đó, Bồ tát nhập thiền với vị phối ngẫu của mình và phát triển tám dấu hiệu, từ hình dạng giống ảo ảnh đến tịnh quang toàn không, câu hữu với tính không. Khi tịnh quang toàn không từ đại lạc tự nhiên của ngài trực tiếp chứng ngộ tính không, Bồ tát đạt được tịnh quang nghĩa. Do đó, ngài là một ngoại lệ ở chỗ ngài không phải thực hành giai đoạn phát sinh, hoặc bất cứ thiền định nào cho đến và bao gồm cả giai đoạn thân huyễn bất tịnh của giai đoạn thành tựu, để đạt được tịnh quang nghĩa.

    Với việc thành tựu tịnh quang nghĩa, Bồ tát bước vào con đường Mật tông của cái thấy và trở thành một Thượng Sư Mật tông ở giai đoạn thứ bốn của các giai đoạn thành tựu. Tiếp theo, ngay khoảnh khắc đầu tiên của tâm đen gần đạt được theo trình tự đảo ngược, ngài đắc thân huyễn thanh tịnh rồi bước vào con đường thiền định mật tông. Sau đó, trong lần tiếp theo nhập định của tịnh quang nghĩa, người đó đạt đến giai đoạn thứ năm, sự hợp nhất cần học. Cuối cùng, ngài nhập định, trong đó những chướng ngại cuối cùng đối với quả toàn giác được loại bỏ. Lúc đó, ngài đạt đến Con Đường Không học, hay giác ngộ viên mãn, Đại Ấn hợp nhất, tức trạng thái sở hữu bảy phẩm chất tối thượng của sự ôm ấp.

    Phương pháp đạt đến Phật quả này là đặc thù của Bồ tát thập địa của Thừa Ba La Mật. Ngài có thể đạt đến giác ngộ bằng cách này nhờ vào năng lực của vô lượng công đức và trí tuệ đã tích lũy qua vô lượng kiếp trên con đường Kinh điển.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này