1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Tịnh Quang của Lạc

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi Prahevajra, 14/12/2025.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    CÁCH ĐẠT PHẬT QUẢ TRONG CÕI DỤC


    Hầu hết hành giả mật tông sẽ đạt được Phật quả trong thân người ở cõi dục. Như đã giải thích, một yogi đạt đến tầng thứ năm, hợp nhất cần học hỏi, đã gần hoàn thành toàn bộ con đường. Họ không còn đối tượng kiến thức mới nào để hiểu biết, họ chỉ cần cải thiện chất lượng của những đắc hiện có. Bằng cách này, họ sẽ loại bỏ những chướng ngại còn lại trên con đường giác ngộ, những chướng ngại trên con đường toàn tri, và đạt đến Phật quả.

    Những chướng ngại đối với sự toàn tri ngăn cản tâm thức hiểu biết mọi đối tượng tri thức trực tiếp và đồng thời. Mặc dù một yogi ở giai đoạn thứ năm đã rất cao siêu, nhưng vị ấy vẫn chưa từ bỏ được những chướng ngại này. Khi yogi này nhập định về tính không, vị ấy không thể đồng thời thực hiện các hành động như thuyết giảng. Nói cách khác, yogi không thể vừa nhập định vừa đồng thời tham gia vào các hoạt động của thành tựu kế tiếp. Mặt khác, một vị Phật đã giác ngộ viên mãn có khả năng thực hiện các hành động lợi lạc mà không bao giờ thoát khỏi thiền định sâu sắc về bản tính tối hậu của thực tại, đây là một trong những phẩm chất tuyệt vời của một bậc giác ngộ. Để đạt được trạng thái cao quý như vậy, hành giả phải liên tục nhập định của tịnh quang nghĩa để loại bỏ mọi chướng ngại còn lại của sự toàn tri. Đó là lý do tại sao sự hợp nhất của giai đoạn thứ năm được gọi là “hợp nhất cần học hỏi”.

    Các pháp thiền chính cho một hành giả như vậy là phương pháp bên ngoài của yoga ấn hành động và hai tập trung bên trong như đã mô tả. Mục đích của các thực hành này là để loại bỏ mọi chướng ngại bằng tịnh quang nghĩa. Phương pháp ôm ấp ấn hành động có thể được giải thích bằng cách lấy ví dụ về một người có Thần bản tôn riêng là Heruka. Anh ta quán tưởng mình là Heruka đang ôm phối ngẫu là Vajravahari, và thông qua sức mạnh ôm ấp này, toàn bộ các luồng khí của an ta đi vào, trụ lại và hòa tan trong giọt bất hoại ở luân xa tim. Với sự hòa tan này, tám dấu hiệu xuất hiện và được kinh nghiệm kết hợp với tính không. Khi tịnh quang toàn không, tâm trí anh ta hòa nhập bất khả phân với tính không, giống như nước hòa lẫn với nước. Ở giai đoạn này, yogi giàu kinh nghiệm có thể duy trì trạng thái tịnh quang toàn không bao lâu tùy thích. Thực hành này phải được tu luyện nhiều lần cho đến khi đạt tới Phật quả hoàn hảo.

    Khi yogi xuất khỏi trạng thái nhập định của tịnh quang, anh ta sẽ kinh nghiệm tâm đen gần đạt được, tăng cường đỏ, hình dạng trắng, vân vân. Với mỗi dấu hiệu tiếp theo, tâm trí anh ta sẽ ngày càng thô hơn cho đến khi, cuối cùng, anh ta tham gia vào các hoạt động hàng ngày như giảng Pháp. Trong giai đoạn thành tựu kế tiếp này, anh ta không còn tịnh quang nữa, vì nó đã ngừng hoạt động khi tâm đen gần đạt được xuất hiện. Bất cứ khi nào muốn hiển lộ tâm tịnh quang rất vi tế này một lần nữa, anh ta phải nhập thiền với ấn hành động hoặc thực thiền các thiền chú tâm bên trong.

    Tịnh quang mà một người kinh nghiệm ở cấp độ hợp nhất là tịnh quang nghĩa. Bằng cách dùng tâm này để thiền nhất điểm về tính không, toàn bộ chín cấp độ chướng ngại của sự toàn tri sẽ dần được loại bỏ và cuối cùng hành giả sẽ đạt được giác ngộ. Cũng như tịnh quang nghĩa, sức giác ngộ này sẽ đạt được vào lúc bình minh, biểu tượng của tịnh quang toàn không.

    Giả sử thần bản tôn của chúng ta là Heruka, và sau khi hoàn thành tất cả các giai đoạn đã mô tả, hôm nay chúng ta đã nhận được những dấu hiệu cho thấy mình đã sẵn sàng để đạt được Phật quả. Giờ đây, chúng ta đến gặp đạo sư và cúng dưỡng các lễ vật cầu kỳ bên ngoài, bên trong, và bí mật. Vào nửa đêm, đạo sư sẽ xuất hiện dưới hình dạng Heruka, và toàn thể chư Phật mười phương. Sau đó, ngài sẽ ban cho chúng ta quán đỉnh ấn trí tuệ và ban cho ta ấn hành động dưới dạng Vajravahari. Nhờ sức mạnh của việc ôm ấp phối ngẫu, ta sẽ kinh nghiệm tám dấu hiệu rồi khi tịnh quang toàn không xuất hiện, tâm ta sẽ hòa trộn không thể phân biệt với tính không. Sau đó, ta sẽ duy trì trạng thái nhập định này cho đến lúc bình minh.

    Trong thời gian này, tâm tịnh quang nghĩa sẽ trở thành pháp đối trị trực tiếp cho những chướng ngại còn lại. Tâm này, tức là tâm cuối cùng của chúng ta với tư cách là một chúng sinh, được gọi là “sự tập trung như kim cương của con đường thiền định”. Khi sự tập trung như kim cương vượt qua những chướng ngại cuối cùng để đạt đến toàn tri vào lúc bình minh, chúng ta sẽ trở thành một chúng sinh giác ngộ viên mãn. Vào thời điểm đó, tâm tịnh quang nghĩa chứng ngộ tính không sẽ trở nên bất hoại và thường hằng, chúng ta sẽ không bao giờ kinh nghiệm lại những tâm đen gần đạt được, tăng cường đỏ, hay bất kỳ trạng thái tâm thức thô nào khác. Từ đó trở đi, ta sẽ kinh nghiệm không gián đoạn tịnh quang toàn không chứng ngộ tính không.

    Với việc đoạn trừ hoàn toàn những chướng ngại cho quả toàn tri vào lúc bình minh, tâm tịnh quang của ta sẽ trở thành Pháp Thân của một vị Phật, còn thân huyễn thanh tịnh sẽ trở thành Sắc Thân. Chúng ta sẽ đạt đến Vô Học Hợp Nhất, trạng thái sở hữu bảy phẩm chất trác tuyệt của sự ôm ấp. Đối với chúng ta, sẽ không còn bất kỳ khác biệt nào giữa nhập định và thành tựu kế tiếp, mọi đối tượng kiến thức sẽ được hiểu đồng thời trong một tâm trí duy nhất tại một khoảnh khắc duy nhất bởi vì ngay cả hình tướng nhị nguyên vi tế nhất cũng sẽ bị loại bỏ. Tâm tịnh quang của chúng ta sẽ đồng thời nhận thức mọi đối tượng kiến thức rõ ràng như chúng sinh thường thấy hình ảnh phản chiếu của mình trong gương.


    CÁCH ĐẠT PHẬT QUẢ Ở NƠI KHÔNG THUỘC HAI NƠI TRÊN


    Trong phần thảo luận về bốn hỷ, có nói rằng sẽ đến lúc hành giả mật tông, người đã sẵn sàng kinh nghiệm tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng, phải chấp nhận một ấn hành động và thực hành những pháp tu khiến khí lan tỏa hòa tan vào giọt bất hoại ở tim, hoặc quyết định không chấp nhận ấn hành động mà chờ cho đến thời điểm tịnh quang của cái chết, khi tất cả các luồng khí tự nhiên tan biến ở đó. Điều xảy ra trong trường hợp đầu tiên đã được mô tả; trường hợp sau giờ đây có thể được giải thích thế này:

    Khi một hành giả như vậy kinh nghiệm tịnh quang của cái chết, người đó sẽ đạt được tâm cô lập của tịnh quang ví dụ tối thượng. Sau đó, thay vì nhập vào trạng thái trung ấm, khi tâm tịnh quang này chấm dứt, hành giả sẽ tái sinh dưới dạng thân huyễn ở một nơi không phải là Akanishta cũng chẳng phải cõi Dục. Nếu vị thần bản tôn của hành giả là Heruka, Phật quả sẽ đạt được ở cõi Tịnh Độ Heruka, nếu đó là Guhyashamaja, thì sẽ ở cõi Tịnh Guhyashamaja, vân vân.

    Thân huyễn mà yogi này đạt được ban đầu là thân huyễn bất tịnh, bởi vì nó phát sinh nhờ năng lực của tâm cô lập, của tịnh quang ví dụ tối thượng. Với thân huyễn bất tịnh này, yogi liên tục thực hành phương pháp bên ngoài và hai pháp thiền bên trong đã được mô tả trước đây. Nhờ những phương pháp này, yogi cuối cùng đạt được tịnh quang nghĩa, lúc đó vị ấy bước vào con đường mật tông của cái thấy và trở thành một Thượng Sư mật tông. Xuất phát từ ý nghĩa này, người đó đạt được thân huyễn thanh tịnh, và ngay sau đó, đạt được hợp nhất vẫn cần học. Từ điểm này cho đến khi đạt được giác ngộ, con đường vẫn giống như đã nêu ở trên.
  2. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    NHỮNG PHẨM CHẤT TỐT CỦA MỘT VỊ PHẬT

    Một yogi thành tựu giác ngộ sẽ làm như vậy trong thân tướng của Báu Thân Hoàn Hảo. Thánh thân này, còn được gọi là “Phật nguyên thủy”, sở hữu bảy phẩm chất siêu quần của sự ôm ấp:

    (1) Báu Thân Hoàn Hảo được trang nghiêm bởi 32 tướng chính và 80 tướng phụ. Những tướng chính và phụ này là những đặc điểm riêng biệt của thân Phật, biểu thị nhiều phương diện mà một bậc giác ngộ vượt trội chúng sinh. Những đặc điểm này bao gồm: đỉnh đầu gồ lên (ushnisha), tóc xoăn trí tuệ, tai dài, và các tướng tốt khác biểu thị những phẩm tính vô song của một vị Phật toàn giác. Chúng không những cho thấy một vị Phật đã thoát khỏi mọi sợ hãi và đau khổ của luân hồi và đã hoàn toàn từ bỏ mọi chướng ngại đối với giải thoát và toàn tri, mà còn cho thấy thân của ngài không bị thoái hóa, bệnh tật, già nua hay tử vong.

    (2) Báu Thân Hoàn Hảo ôm ấp một ấn trí tuệ. Đặc điểm Yab Yum đối diện nhau này tượng trưng cho sự giác ngộ đạt được thông qua việc hoàn thành các pháp ôm ấp rồi từ đó kinh nghiệm đại lạc để thiền về tính không.

    (3) Tâm của bậc giác ngộ luôn ở trong trạng thái đại lạc tựu nhiên. Đây là một dấu hiệu nữa cho thấy tâm của Phật vượt trội hơn chúng sinh.

    (4) Đại lạc của Phật luôn hòa quện với tính không. Không rời khỏi trạng thái nhập định này, bậc giác ngộ thấy rõ ràng mọi đối tượng tri thức như hạt pha lê trong lòng bàn tay. Điều này chứng tỏ phẩm chất cao cả của trí tuệ Phật.

    (5) Tâm đại từ của Phật đối với toàn thể chúng sinh không hề dao động. Đặc điểm này chứng tỏ tâm của bậc giác ngộ không bị vấy bẩn bởi chút tư duy vị kỷ nào, và ngài làm lợi ích cho toàn thể chúng sinh, không trừ một ai.

    (6) Dòng tương tục của thân giác ngộ không bao giờ chấm dứt, chứng tỏ thân kim cang bất hoại đã thành tựu.

    (7) Các hóa thân của Phật tràn ngập khắp vũ trụ còn các hoạt động vì lợi ích muôn loài của ngài không bao giờ ngừng nghỉ.

    Đây chỉ là một mô tả ngắn gọn về Phật nguyên thủy: Báu Thân Kim Cang Trì. Nếu liệt kê chi tiết tất cả những phẩm chất tuyệt hảo của một vị Phật như vậy thì mô tả sẽ dài ra nhiều trang giấy. Những giải thích sâu hơn về những phẩm chất tuyệt diệu của thân khẩu ý Phật được trình bày trong chương tám của bộ Hiện Quán Trang Nghiêm của Di Lặc cùng nhiều bản chú giải về nó, và Nhập Trung Đạo của Nguyệt Xứng. Một chú giải về bộ này có thể được tìm thấy trong Đại Dương Cam Lộ.


    GIẢI THÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA THỨ TỰ THUẬN VÀ NGHỊCH

    Nhờ nương tựa vào đạo sư, chúng ta có cơ hội đặc biệt để tiến bộ qua các giai đoạn thực hành Đại thừa và có được hiểu biết về từ bỏ, bồ đề tâm, cùng chánh kiến về tính không. Với nền tảng vững chắc này, chúng ta đủ điều kiện để được vào giai đoạn thiền phát sinh của mật tông. Dựa trên kinh nghiệm của giai đoạn phát sinh, chúng ta có cơ hội thực hành cô lập thân và cô lập khẩu của giai đoạn thành tựu. Quá đó, ta có thể hoàn tất thành công việc tu luyện cô lập tâm, và đắc được thân huyễn cùng tịnh quang nghĩa. Nhờ sức mạnh của tịnh quang nghĩa, ta có thể thành tựu Đại Ấn, là sự hợp nhất hai chân lý. Trên cơ sở Đại Ấn này, cuối cùng chúng ta đạt được Phật quả: sự hợp nhất Đại Ấn kết quả sở hữu bảy phẩm chất ưu việt của sự ôm ấp. Tiến trình từng bước này, từ nương tựa ban đầu vào đạo sư cho đến khi giác ngộ trọn vẹn, là mối quan hệ theo thứ tự thuận của các giai đoạn trên con đường.

    Về mối quan hệ theo thứ tự ngược, nó sẽ như sau. Việc đạt được Đại Ấn Hợp Nhất sở hữu bảy phẩm tính trác tuyệt của sự ôm ấp phụ thuộc vào việc chúng ta đã đạt được Đại Ấn hợp nhất hai chân lý. Điều này lại phụ thuộc vào việc chúng ta đạt được tịnh quang nghĩa, thứ lại phụ thuộc vào việc ta đã đắc thân huyễn trước đó. Thân huyễn có được phụ thuộc việc đạt được cô lập tâm, thứ này đạt được phụ thuộc việc đạt được cô lập khẩu, cô lập thân của giai đoạn thành tựu. Điều này phụ thuộc việc hoàn tất thiền định giai đoạn phát sinh, và nó lại phụ thuộc vào hiểu biết của chúng ta về ba con đường chính: xả ly, bồ đề tâm và chánh kiến về tính không. Toàn bộ các thành tựu này, từ việc đạt được Phật quả cho đến triển khai từ bỏ, đều phụ thuộc vào sự thành tâm nương tựa vào Đạo sư của chúng ta.

    Hai cách nhìn nhận về mối quan hệ tương hỗ giữa các giai đoạn của con đường này cho thấy rằng nếu chân thành khao khát thành Phật, chúng ta phải đi theo toàn bộ con đường của cả Kinh và Mật. Dành cả đời cho một hoặc hai pháp thiền sẽ không đưa chúng ta đến giác ngộ. Nếu muốn thưởng thức một tách trà, sẽ là không đủ nếu chỉ có nước, chỉ trà, chỉ sữa, hoặc chỉ đường, chúng ta cần có đủ toàn bộ nguyên liệu. Nếu phải chuẩn bị nhiều thứ khác nhau chỉ để thưởng thức một tách trà, thì còn cần nhiều hơn bao nhiêu nếu mục đích của chúng ta là đạt đến giác ngộ vô thượng? Thật phi thực tế khi nghĩ rằng ta có thể chỉ dựa vào một hoặc hai phương pháp thực hành riêng lẻ.

    Đến đây hoàn tất hướng dẫn về Đại Ấn Hợp Nhất nói riêng và Đại Ấn Mật Tông nói chung. Nếu những hướng dẫn này muốn mang lại lợi ích, chúng không nên chỉ là một đối tượng của tính tò mò hay hứng thú tri thức, chúng ta phải thực sự áp dụng chúng vào thực hành dưới sự chỉ dẫn của một vị thầy đạo học đủ phẩm hạnh.


    CÁC GIAI ĐOẠN KẾT THÚC

    Trong giáo lý truyền thống Kadampa về rèn luyện tâm thức, có ghi rõ rằng có những hoạt động cụ thể cần được thực hiện vào lúc bắt đầu và kết thúc bất cứ thực hành Pháp nào. Bất kể chúng ta gắn kết với hoạt động nào, dù là học tập, thiền định, thực hành bố thí hay bất cứ việc gì khác, điều quan trọng là phải thiết lập một động lực đúng đắn ngay từ đầu và thực hiện hồi hướng đúng cách vào lúc kết thúc. Việc thiết lập động lực đúng đắn, tức bồ đề tâm, đã được giải thích ở phần đầu cuốn sách này. Về hồi hướng đúng đắn, chức năng của phần thực hành kết thúc này là để đảm bảo rằng bất cứ sự thịnh vượng phẩm đức nào được tích lũy từ các hoạt động Pháp của ta không bị lãng phí hoặc cạn kiệt, mà còn được tăng trưởng dồi dào. Dù công đức tích lũy có nhỏ bé, nhưng nếu chúng ta thực hiện hồi hướng đúng cách, thì kết quả của nó vẫn có thể rất lớn.

    Kết quả của các hành vi công đức phần lớn phụ thuộc vào cách chúng ta hồi hướng chúng. Nếu những hành vi công đức đã tích lũy trước đây được hồi hướng đến giác ngộ, chúng chắc chắn sẽ trở thành nguyên nhân đưa chúng ta đến Phật quả viên mãn, nếu chúng được hồi hướng đến giải thoát cá nhân khỏi đau khổ, chúng sẽ trở thành nguyên nhân đưa ta đến niết bàn, nếu được hồi hướng đến lợi ích của những thú vui trong đời này, kết quả của chúng sẽ đến tương đương theo đó. Tuy nhiên, sự hồi hướng như vậy không phải là hồi hướng thanh tịnh, và trước đó cũng không phải là hồi hướng cao cả. Chính cách hồi hướng đầu tiên mới là thanh tịnh và cao quý nhất. Vì vậy, chúng ta nên hồi hướng bất cứ thiện hạnh nào đã thực hiện, và bất kỳ công đức nào đã tích lũy được từ chúng, hướng đến giác ngộ vì lợi ích của toàn thể chúng sinh, không trừ một ai.

    Vậy thì, chúng ta hãy hồi hướng toàn bộ công đức của việc bố thí và lắng nghe giáo lý Đại Ấn, của việc đọc tụng sách vở Đại Ấn, của việc quán chiếu ý nghĩa Đại Ấn, và của việc thiền về các giai đoạn thực hành Đại Ấn, cho sự thành tựu Đại Ấn, tức là sự Hợp Nhất của Không Học Nữa, sự giác ngộ viên mãn của Phật quả, vì lợi ích của toàn thể chúng sinh. Việc hồi hướng này vô cùng quan trọng. Nếu được thực hiện đúng đắn và chân thành tận đáy lòng, thì việc thực hiện ba phần” lắng nghe, quán chiếu và thiền định về giáo lý Đại Ấn sẽ vô cùng ý nghĩa và là nguồn gốc của đại lạc.

    HỒI HƯỚNG

    Chúng ta nên cầu nguyện:

    Để hoàn thành mọi mục đích của chúng sinh

    Nhờ đạo hạnh này, tôi có thể nhanh chóng đạt được

    Bảy phẩm chất ưu việt của ôm ấp

    Một Sắc Thân được phú cho những dấu hiệu chính và phụ

    Ôm ấp một phối ngẫu trí tuệ

    Một tâm trí an trú trong đại lạc

    Lạc này nhận ra sự thiếu vắng tồn tại cố hữu

    Từ bi đã loại bỏ thái cực an phận

    Một dòng tương tục không gián đoạn của thân

    Và những hành động giác ngộ không ngừng nghỉ.

    Mong mọi điều may mắn.
  3. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Ý NGHĨA TÓM LƯỢC CỦA CUỐN SÁCH

    Phần giải thích về các giai đoạn thực hành con đường Kim Cương Thừa nhanh chóng của Đại Ấn thuộc dòng truyền miệng của Truyền Thống Đức Hạnh vô song gồm ba phần:

    1. Giới thiệu về các con đường chung

    2. Nguồn gốc dòng truyền mà hướng dẫn này khởi nguồn

    3. Giải thích thực tế về các hướng dẫn sở hữu dòng truyền này

    Giải thích thực tế về các hướng dẫn sở hữu dòng truyền này có ba phần:

    1. Các thực hành sơ bộ

    2. Thực hành thực tế

    3. Giai đoạn kết thúc

    Thực hành sơ bộ có hai phần:

    1. Thực hành sơ bộ chung

    2. Thực hành sơ bộ không phổ biến

    Thực hành sơ bộ chung có bốn phần:

    1. Hướng dẫn quy y, phát bồ đề tâm, cửa vào Phật pháp và Đại thừa

    2. Hướng dẫn cúng dường mandala, cửa ngõ tích lũy công đức

    3. Hướng dẫn thiền và trì tụng Kim Cương Tát Đỏa, cổng thanh lọc tiêu cực và sa ngã

    4. Hướng dẫn Guru Yoga, cổng nhận phúc lành

    Thực hành thực sự có ba phần:

    1. Cách thực hành Đại Ấn hợp nhất lạc và không

    2. Cách thực hành Đại Ấn hợp nhất hai chân lý

    3. Cách đạt được Đại Ấn kết quả Hợp Nhất Không Học Nữa, trạng thái có bảy phẩm chất lỗi lạc của sự ôm ấp

    Cách thực hành Đại Ấn hợp nhất lạc và không có hai phần:

    1. Giải thích phương pháp phát sinh chủ thể - đối tượng, đại lạc tự nhiên

    2. Giải thích phương pháp chứng ngộ đúng đối tượng, tính không

    Giải thích cách phát sinh chủ thể - đối tượng, đại lạc tự nhiên, có hai phần:

    1. Thâm nhập vào những điểm chính xác trong thân thể mình

    2. Thâm nhập vào những điểm chính xác trong thân thể người khác

    Thâm nhập vào những điểm chính xác trong thân mình có bốn phần:

    1. Xác định 10 cánh cửa mà khí có thể đi vào trung mạch

    2. Nguyên nhân khí có thể đi vào trung mạch bằng cách xuyên qua các điểm chính xác của những cánh cửa này

    3. Giải thích các chức năng khác nhau của chúng

    4. Giải thích các giai đoạn thiền nội hỏa (tummo) đặc biệt

    Giải thích các giai đoạn thiền nội hỏa đặc biệt có hai phần:

    1. Cách thiền nội hỏa trong tám giai đoạn

    2. Dựa trên những điều này, giải thích về thực hành bốn hỷ và chín hòa nhập

    Cách thiền nội hỏa trong tám giai đoạn có tám phần:

    1. Giải thích việc xóa tan trược khí và thiền về một thân rỗng

    2. Quán tưởng và thiền về các kinh mạch

    3. Tu luyện theo các con đường của kinh mạch

    4. Quán tưởng và thiền về các chữ cái

    5. Đốt lên nội hỏa

    6. Khiến lửa bùng cháy

    7. Cháy đơn thuần và nhỏ giọt

    8. Giải thích về bùng cháy và nhỏ giọt phi thường

    Dựa trên những điều này, giải thích về thực hành bốn hỷ và chín hòa nhập có hai phần:

    1. Giải thích về bốn hỷ

    2. Giải thích về chín hòa nhập

    Giải thích về chín hòa nhập có ba phần:

    1. Giải thích về hòa nhập trong lúc thức

    2. Giải thích về hòa nhập trong lúc ngủ

    3. Giải thích về hòa nhập trong lúc chết

    Giải thích về hòa nhập trong lúc thức có ba phần:

    1. Hòa nhập với Pháp Thân lúc thức

    2. Hòa Nhập với Báu Thân lúc thức

    3. Hòa nhập với Hóa Thân lúc thức

    Giải thích hòa nhập trong lúc ngủ có ba phần:

    1. Hòa nhập với Pháp Thân lúc ngủ

    2. Hòa Nhập với Báu Thân lúc ngủ

    3. Hòa nhập với Hóa Thân lúc ngủ

    Giải thích hòa nhập trong lúc chết có ba phần:

    1. Hòa nhập với Pháp Thân lúc chết

    2. Hòa Nhập với Báu Thân lúc chết

    3. Hòa nhập với Hóa Thân lúc chết

    Thâm nhập vào các điểm chính xác trong thân người khác có hai phần:

    1. Dựa vào một ấn hành động

    2. Dựa vào một ấn trí tuệ

    Giải thích phương pháp nhận chân đối tượng tính không có ba phần:

    1. Chứng ngộ trực tiếp tính không phụ thuộc vào an trú tĩnh lặng thế nào

    2. Giải thích không phổ biến về cách thiền an trú tĩnh lặng

    3. Cách tìm kiếm cái thấy về tính không bằng thiền

    Giải thích không phổ biến về cách thiền an trú tĩnh lặng có hai phần:

    1. Giới thiệu về đối tượng thiền, chính là tâm trí

    2. Giải thích thực tế về cách tu luyện

    Giới thiệu đối tượng thiền, là tâm trí, có ba phần:

    1. Giới thiệu tâm trí chung

    2. Giới thiệu tâm trí cá nhân

    3. Tránh nhầm lẫn giới thiệu bản tính của tâm: quy ước và tối hậu

    Giới thiệu tâm trí cá nhân có ba phần:

    1. Giới thiệu tâm trí thô

    2. Giới thiệu tâm trí tinh

    3. Giới thiệu tâm trí rất vi tế

    Giải thích thực tế cách tu luyện có ba phần:

    1. Cách tu luyện bằng chánh niệm tổng quát

    2. Cách tu luyện bằng chánh niệm cụ thể

    3. Cách tu luyện bằng sáu phương pháp để ổn định tâm trí

    Cách tu luyện bằng chánh niệm cụ thể có năm phần:

    1. Tu luyện bằng chánh niệm mới

    2. Tu luyện bằng chánh niệm cũ

    3. Tu luyện bằng phương pháp phù hợp

    4. Tu luyện bằng cách sử dụng nhãn hiệu người khác biết

    5. Tu luyện bằng cách chấm dứt tự nhiên tư duy khái niệm

    Tu luyện bằng sáu phương pháp an định tâm trí có sáu phần:

    1. Trầm tĩnh như mặt trời không bị mây che khuất

    2. Vững vàng như garuda chao liệng trên trời

    3. Lắng đọng như đại dương tĩnh lặng

    4. Yên tĩnh như đứa trẻ nhìn chăm chú vào đền thờ

    5. Tịch lặng như dấu chim bay trên trời

    6. Dịu nhẹ như sợi bông mịn

    Cách tìm kiếm cái thấy về tính không bằng thiền có ba phần:

    1. Cách thiền về tính vô ngã của con người

    2. Cách thiền về tính vô ngã của các hiện tượng

    3. Khuyên những ai mong muốn hiểu đúng về quan kiến tối hậu của cả Kinh và Mật về tính cần thiết của, văn, tư , tu về văn bản gốc của Long Thọ về Trung Đạo và các bản bình luận về nó.

    Cách thiền về tính vô ngã của con người có ba phần:

    1. Xác định đối tượng phủ định

    2. Cách bác bỏ đối tượng phủ định

    3. Cách tu luyện tính không trong nhập định và thành tựu kế tiếp

    Cách bác bỏ đối tượng phủ định có ba phần:

    1. Điểm thiết yếu của việc xác định sự lan tỏa

    2. Điểm thiết yếu xác định sự vắng mặt của tính thống nhất

    3. Điểm thiết yếu xác định sự vắng mặt của tính đa thù

    Cách tu luyện trong quá trình nhập định và thành tựu kế tiếp có hai phần:

    1. Yoga nhập định như không gian

    2. Yoga thành tựu kế tiếp như huyễn

    Cách thiền về tính vô ngã của các hiện tượng có ba phần:

    1. Thiền về sự thiếu vắng tính tồn tại cố hữu của thân thể

    2. Thiền về sự thiếu vắng tính tồn tại cố hữu của tâm trí

    3. Thiền về sự thiếu vắng tính tồn tại cố hữu của các hiện tượng khác

    Mỗi một trong ba loại này đều có ba phần, xác nhận đối tượng phủ định, vân vân.

    Cách thực hành Đại Ấn hợp nhất của hai chân lý, có ba phần:

    1. Giải thích các giai đoạn đạt được thân huyễn liên quan chân lý quy ước

    2. . Giải thích các giai đoạn đạt được tịnh quang nghĩa liên quan chân lý tối hậu

    3. Giải thích thực sự về Đại Ấn hợp nhất hai chân lý

    Giải thích các giai đoạn đạt được thân huyễn liên quan chân lý quy ước có bốn phần:

    1. Những đệ tử có bốn tính chất thỉnh cầu ý nghĩa của thân huyễn từ đạo sư đủ tiêu chuẩn

    2. Hiểu biết đúng đắn về thân huyễn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của đạo sư thế nào

    3. Hiểu biết cơ sở để đắc được thân huyễn

    4. Con đường thực sự để đắc được thân huyễn trên cơ sở này

    Giải thích các giai đoạn đạt được tịnh quang nghĩa liên quan chân lý tối hậu có ba phần:

    1. Giải thích cách tu dưỡng

    2. Cách tu dưỡng dựa trên phương pháp này

    3. Lý do chỉ có tịnh quang này hoạt động như pháp đối trị trực tiếp cho cả những vô minh hình thành từ sở tri và bẩm sinh

    Giải thích thực sự về Đại Ấn hợp nhất hai chân lý có hai phần:

    1. Giới thiệu về sự hợp nhất

    2. Biểu thị các giai đoạn nó được thành tựu dần dần

    Cách thành tựu Đại Ấn Hợp Nhất Vô Học, trạng thái có bảy phẩm tính trác tuyệt của sự ôm ấp, có năm phần:

    1. Nơi đạt Phật quả

    2. Cơ sở để đạt được Phật quả

    3. Con đường đạt Phật quả

    4. Phẩm chất tốt đẹp của một vị Phật
    5. Giải thích mối quan hệ giữa thứ tự thuận và nghịch

    Hồi Hướng

    (Bỏ qua Nghi Quỹ ngắn Heruka năm hóa thần theo truyền thống của đạo sư Ghantapa)

    (Hết Sách)
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này