1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Xem thêm thông tin về ngôi chùa Cổ Pháp

Chủ đề trong 'Tản mạn Sài Gòn' bởi tuvynguyen09, 21/07/2020.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. tuvynguyen09

    tuvynguyen09 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    11/09/2018
    Bài viết:
    665
    Đã được thích:
    0
    Cùng chúng tôi xem thêm thông tin về ngôi chùa Cổ Pháp. Tên chùa Cổ Pháp: Theo sách Thiền uyển tập anh và Việt Nam Phật giáo Sử luận thì tên Cổ Pháp là do tích ***** đời thứ 8 phái Tì Ni Đa Lưu Chi là Định Không đặt lại tên ở quê mình (hương, làng Cổ Pháp) mà thành. Sự tích như sau: Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805), khi ***** Định Không dựng chùa Quỳnh Lâm ở địa phương, lúc đào móng chùa thì được 1 bình hương và 10 chiếc khánh đồng. ***** sai người đem ra sông để rửa sạch thì 1 chiếc rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất mới nằm im. ***** nói rằng:

    [​IMG]


    Thập khẩu là 10 cái miệng (Thập là 10, Khẩu là mồm miệng), chữ Thập [十] đặt chồng lên chữ Khẩu [口] thành chữ Cổ [古] (nghĩa là cũ, xưa); Thủy khứ là đi xuống nước (Thủy là nước, Khứ là đi) chữ Thủy [氵] đặt cạnh chữ Khứ [去] là chữ Pháp [法] (nghĩa là Pháp Phật hoặc Luật pháp). Chữ Thập [十] đặt trên chữ Nhất [一] thành ra chữ Thổ [土] (đất), nghĩa là 10 miếng, mất 1 miếng thì là trở về với đất và liệng về phía Hương (làng xã) của ta nên đổi tên hương Diên uẩn (Diên Uốn) là hương Cổ Pháp. Nếu đọc theo Hán Việt thì Cổ Pháp là Nghi thức cổ xưa, Luật pháp cổ xưa). Nếu đọc theo âm Nôm là Pháp cổ nghĩa là Trống pháp. Trống pháp nghĩa là âm thanh Phật giảng pháp vang xa như tiếng trống, nghĩa đen là Phật pháp thịnh hưng. Xứ Kinh Bắc xưa còn có Cổ Loa (loa cổ), Cổ bi (Bia cổ). Rồi ***** làm bài kệ Tụng như sau:

    Đất dâng Pháp khí - Hạng nhất đồng ròng

    Gặp thời Phật pháp thịnh hưng - Đặt tên làng Cổ Pháp.

    (Địa trình pháp khí - Nhất phẩm trinh đồng

    Tri Phật pháp chi long hưng - Lập hương danh chi Cổ Pháp)

    Lại có một bài thơ khác:

    Pháp khí hiện ra - Khánh đồng mười tấm

    Họ Lý làm vua - Công đầu Tam phẩm.

    (Pháp lại xuất hiện - Thập khẩu đồng chung

    Lý thị hưng vương - Tam phẩm thành công)

    Lại một bài khác:

    Mười cái xuống nước đất - Cổ Pháp tên làng ta

    Gà ngồi lưng loan phượng - Tam bảo đến lúc hưng.

    (Thập khẩu thủy thổ khứ - Cổ Pháp danh hương hiệu

    Kê cư loan nguyệt hậu - Chính thị hưng Tam bảo)

    Theo sử sách và một số công trình khảo cứu thì trước kia, chùa Cổ Pháp thuộc hương (xã, làng) Diên uẩn (hương Diên Uốn, hương Cổ Pháp), châu Cổ Pháp (sau thời lý gọi là Cổ Lãm), phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc, sau này thuộc thôn Đại Đình (Bản doanh của triều đình) hay Đình Sấm, Dương Lôi; tên nôm gọi là Nuốn (có thể từ chữ Diên Uốn mà ra); sau thuộc huyện Đông ngàn (sau lại đổi là huyện Từ Sơn). Chùa Cổ Pháp tọa lạc khu vực có nhiều dòng sông nổi tiếng là sông Tiêu Tương (Tương giang) với cầu chuyện tình đẫm nước mắt của chàng Trương Chi thổi sáo với nàng công chúa Mỵ Nương, sông Thiên Đức, sông Tào Khê (***** đời thứ sáu của phái Thiền - Lục Tổ Tuệ Năng tu ở núi Tào Khê), rừng báng, núi Đại Sơn và, chùa Dặn, chùa Lục Tổ có tượng vàng của (Lục Tổ Tào Khê Tuệ Năng)...

    Hương Cổ Pháp là quê hương của vua Lý Công Uẩn, nơi phát tích của triều Lý và gắn liền các *****: Định Không, Thông Thiện, La Quý An, Thiền Ông, Vạn Hạnh, Khánh Văn... và các ngôi chùa ở đây là chùa Cổ Pháp, chùa Lục Tổ (tức chùa Tiêu - Thiên Tâm tự trên núi Tiêu thuộc xã Tương Giang tên cũ là Dịch Bảng), chùa Dận (ở xã Đình Bảng). Việc vua Lý Công Uẩn có phải sinh ra, lớn lên ở chùa làng - quê mẹ (bà Phạm Thị) là chùa Cổ Pháp hay sinh ra ở chùa Dận (Đình Bảng) thì vẫn còn tranh cãi. Tuy nhiên sử sách thì cho rằng bà Phạm Thị làm sãi ở chùa Tiêu (Khi đó ***** Vạn Hạnh đang trụ trì), khi đau đẻ thì về đến chùa chùa Dận (ý là dặn đẻ) nhưng cố về chùa Cổ Pháp thì mới sinh vua Lý Công Uẩn. Chùa Cổ Pháp là nơi vua Lý Công Uẩn sinh ra, lớn lên (***** Vạn Hạnh giao cho ***** Khánh Văn nuôi)

    Theo sách Thiền uyển Tập anh và Việt Nam Phật giáo Sử luận thì trước khi mất ***** Định Không dặn lại Đệ tử trước khi mất là Thông Thiện (hoặc Thông Biện): Đất Cổ Pháp này là đất quan trọng, sau này có thể có kẻ dị nhân đến phá, phải giữ gìn cẩn thận... Đất này bị phá hoại thì vĩ nhân không xuất hiện cứu nước và làm hưng thịnh Phật Pháp được. Trước khi mất, ***** Thông Thiện dặn lại Đệ tử là La Quý An cũng như vậy. ***** La Quý An cho rằng khi Cao Biền đắp thành Đại la thì cho đào 19 cái ao ở khu vực này (xã Phù Chẩn hiện nay)là phá khí Đế vương ở đất Cổ Pháp nên đã cho lấp 19 ao trên. Ông cũng cho đúc tượng Lục Tổ Tuệ Năng bằng vàng và trồng cây gạo ở chùa Minh Châu (hay Gia Châu, Cha Lư) để trấn (năm Bính thân - 936) và để lại bài sấm như sau:

    Trên núi đầu Rồng xuất hiện - Đuôi Rắn ẩn ngọc Minh châu

    18 chàng trai nhất định thành công - Khi hình Rồng hiện ở cây gạo

    Vào tháng chuột, ngày gà, giờ thỏ - Mặt trời rực rỡ trên mây xanh.

    (Đại sơn long đầu khởi - Xà vĩ ẩn minh châu

    Thập bát tử định thành [ghép thành chữ Lý] - Miên thọ hiện long trình

    Thố kê thử nguyệt nội - Định kiến nhật xuất thanh)

    Đại Việt Sử ký Toàn thư nói rằng sét đánh lên cây gạo tạo bài Sấm trên thân cây gạo:

    Gốc cây thăm thẳm - Ngọn cây xanh xanh

    Cây đào, hoa rụng - Mười tám hạt thành

    Cành đông xuống đất - Cây khác lại sinh

    Đông mặt trời mọc - Tây sao ẩn hình

    Sáu bảy năm nữa - Thiên hạ thái bình.

    (Thụ căn diểu diểu - Mộc biểu thanh thanh

    Hòa đao mộc lạc - Thập bát tử thành

    Đông a nhập địa - Dị mộc tái sinh

    Chấn cung kiến nhật - Đoài cung ẩn tinh

    Lục thất niên gian - Thiên hạ thái bình)

    Sau, ***** Vạn Hạnh luận rằng: Thụ căn là gốc (vua); chữ Diểu đồng âm với chữ yểu (vua chết yểu); chữ Biểu là ngọn (bầy tôi), chữ thanh là xanh, đồng âm với chữ thịnh. Nghĩa là một người trong số Quần thần sẽ làm vua. 3 chữ hòa đao mộc góp lại là Lê, lạc là rơi (Lê lạc tức là nhà Tiền Lê đổ); 3 chữ thập bát tử (chữ [十] và chữ [八]) ghép thành chữ Mộc [木], chữ Mộc trên chữ Tử [子] thành chữ Lý [李] nghĩa là nhà Lý làm vua; Đông a nhập địa là chỉ phương Bắc xâm lăng. Do sét đánh cây gạo nên hương [làng hoặc xã] Cổ Pháp sau này gọi là Đình Sấm, Dương Lôi. Hiện gần nền chùa Minh Châu cổ xưa ở làng Đại Đình - Dương Lôi có chùa Cha Lư (âm Chư lư chỉ một loại cây to, Lư là cây gỗ gụ) mà Cha lư thường gắn với việc cầu phúc, tiếng Chàm có nghĩa là Thần sấm (Đình Sấm, Dương Lôi) và Hán học là nơi sinh ra Thánh nhân. Sách Thiên Nam Ngữ lục nói chùa Gia Châu (hay Minh Châu, Cha Lư) là nơi sinh của Lý Công Uẩn.

    Về tên Lý Công Uẩn đã thể hiện là người làng hương Diên uẩn (hương Diên Uốn, hương Cổ Pháp). Truyền thuyết và các tài liệu đều thống nhất là mẹ Lý Công Uẩn (bà Phạm Thị) người làng Đình Sấm - Dương Lôi. Bà được thờ làm Thánh mẫu ở chùa Cha Lư, đền Lý Thánh Mẫu (đền Miễu) và được là Thành hoàng thờ cùng 8 vị vua nhà Lý ở đình - đền Dương Lôi (ở Dương Lôi hiện còn di tích mộ cha mẹ bà Phạm Thị ở khu vực cánh đồng Miễu). Văn bia cổ xác nhận Dương Lôi là đất thang mộc ấp của bà.

    Ngoài ra nếu các bạn muốn biết thêm về các ngôi chùa cổ ở sài gòn thì hãy nhanh tay liên hệ hoặc truy cập ngay vào website của chúng tôi nhé.

Chia sẻ trang này