Quả thật, cho dù chúng ta hiểu được, chẳng hạn, “nguyên thủy” của một bức tranh sơn dầu, chúng ta cứ như là đã nhìn thấy nó đầu tiên trong hình thức tái sản xuất vô số (sách, thiệp, bưu thiếp – thậm chí cả hình thức cóp nhặt hay các biển đổi về chủ đề) và ta có lẽ chỉ có thể “thấy” tính nguyên thủy trong ánh sang phán xét được đẽo gọt bởi các bản sao hay nâng cấp mà ta đã gặp (xem Intertextuality). Trong thời đại hậu cấu trúc, số lượng văn bản quả thật là “những bản sao không có nguồn gốc” (copies without originals).
Khu biệt loại-phiếu trong quan hệ với dấu hiệu quan trọng trong các thuật ngữ dấu hiệu học xã hội không những như tài sản tuyệt đối của trung hiệu (sign vehicle) mà tới mức độ như nó tác động lên bất cứ cơ hội được cho nào (cho mục đích cá biệt) cho đến những cái được gộp vào trong việc sử dụng dấu hiệu. Khác biệt nhỏ trong một kiểu mẫu (pattern) có thể là một vấn đề cuộc sống và cái chết dành cho những con bạc trong tương quan với sự biến thiên trong kiểu mẫu đó ở mặt sau của lá bài trong phạm vi cùng một bộ bài, nhưng sự khác biệt phong cách trong thiết kế của mỗi loại bài (như con át bích), đều được đánh giá cao bởi người hồ lì như nét khu biệt về những bộ bài khác biệt.
Như đã chỉ ra, Saussure xem kí hiệu và được kí hiệu như hình thức tâm lý phi vật chất, ngôn ngữ tự nó là một hình thức, không phải là một thực thể” (the language itself is 'a form, not a substance) (Saussure 1983, 111, 120; Saussure 1974, 113, 122). Ông sử dụng nhiều ví dụ để củng cố điều này. Chẳng hạn, trong một trong các phép loại suy về cờ, ông lưu ý rằng “nếu bộ phận làm bằng ngà voi được thay thế bằng bộ phận làm bằng gỗ, sự thay đổi này cũng chẳng khiến hệ thống khác đi” (Saussure 1983, 23; Saussure 1974, 22).
Theo đuổi cách tiếp cận thiết thực này, ông lưu ý ở nơi nào đó chuyến tàu lúc 8 giờ 25 từ Geneva đến Paris được xem như “cùng một chuyến tàu” cho dù sự sự kết nối về máy, khoang hàng và nhân sự thay đổi. tương tự, ông đặt câu hỏi tại sao một khu phố đã được tái xây dựng hoàn thành có thể vẫn là “cùng một khu phố”. Ông cho rằng đó là do nó không phải là cấu trúc vật chất thuần túy” (Saussure 1983, 107; Saussure 1974, 108).
Saussure khăng khăng rằng ông không có ý nói cái toàn thể là “trừu tượng” vì ta không thể tưởng tượng về một khu phố hay chuyến tàu mà không có hiện thực vật chất của nó” – “sự tồn tại vật lý chủ yếu cho ta hiểu chúng là gì” (their physical existence is essential to our understanding of what they are)(Saussure 1983, 107; Saussure 1974, 109; see also ibid, 15). Điều này có thể liên quan đến khu biệt loại-phiếu (type-token distinction). Vì Saussure xem ngôn ngữ giới hạn trong chức năng hình thức hơn là thực thể vật chất, khi đó thì bất cứ thứ gì thực hiện cùng một chức năng trong phạm vi hệ thống có thể xem như là một phiếu (token) nữa của cùng một loại (type). Liên quan đến ngôn ngữ, Saussure quan sát rằng “âm thanh, như một yếu tố vật chất…chỉ đơn thuần là sự lệ thuộc, một thứ vật chất mà ngôn ngữ sử dụng nó” (Saussure 1983, 116; Saussure 1974, 118). Các kí hiệu ngôn ngữ học không khi nào mang tính vật lý được (Linguistic signifiers are not physical in any way). Chúng được kiến tạo chỉ bởi sự khác biệt nhằm phân biệt một khuôn âm thanh (sound pattern) với một khuôn khác” (Saussure 1983, 117; Saussure 1974, 118-119). Ông thừa nhận một điểm, với chút miễn cưỡng, rằng “dấu hiệu ngôn ngữ học là, phải nói là như thế, hiển nhiên: viết có thể ấn định chúng vào các hình ảnh qui ước” (Saussure 1983, 15; Saussure 1974, 15). Tuy nhiên, khi nói về dấu hiệu viết, ông bình luận rằng “phương thức viết khắc thực sự là không thích đáng, vì nó không có tác dụng đối với hệ thống…Liệu tôi viết bằng mực đen hay trắng, bằng chữ khắc hay chữ nổi, với bút chì hay cái đục – chẳng thứ nào là quan trọng đối với ý nghĩa cả” (Saussure 1983, 118; Saussure 1974, 120).
Ta có thể hiểu làm thế nào một nhà ngôn ngữ có xu hướng tập trung vào hình thức và chức năng trong phạm vi ngôn ngữ và xem biểu hiện vật chất của ngôn ngữ như quan tâm ngoài lề. “ Nhà ngôn ngữ học …quan tâm về các loại (type), chứ không phải các phiếu (token)” (Lyons 1977, 28).
Đấy không chỉ là thái độ của nhà ngôn ngữ Saussure, mà cũng là của nhà triết học Peirce: “Từ “người”…không chứa đựng 5 đoạn mực (films of ink). Nếu từ “người” xuất hiện hàng trăm lần trong một quyển sách có vô số bản sao được in, thì tất thảy cả triệu bộ ba những mảnh ghép bằng mực là hiện thân của một và cùng một từ…một trong những hiện thân đó là bản sao (replica) của biểu tượng đó. Đấy chứng tỏ từ không phải là một vật” (Peirce 1931-58, 4.447). Peirce thiên về tính vật chất của dấu hiệu: “vì dấu hiệu không giống với vật được kí hiệu, nhưng khác với cái sau ở vài khía cạnh, đơn giản là nó phải có vái đặc tính thuộc về nó trong chính nó…Những đặc tính này tôi gọi là phẩm chất vật chất (material qualities) của dấu hiệu”. Ông chấp nhận rằng tính vật chất là thuộc tính (property) của dấu hiệu mà nó rất quan trọng trong lý thuyết về nhận thức”. Tính vật chất chẳng có liên quan gì đến chức năng đại diện của nó” và nó không là nét đặc biệt trong sự sắp xếp phân loại của ông. Tuy nhiên, ông ám chỉ ngắn gọn về tiềm năng tạo nghĩa của tính vật chất: “Nếu tôi lấy toàn bộ các vật có những phẩm chất nào đó và nối chúng một cách vật lý với một loạt các vật khác nữa, cái này với cái kia, chúng sẽ trở nên vừa vặn cho một dấu hiệu”. Chẳng hạn, nếu màu của một bông hoa màu đỏ có ý nghĩa đối với một người nào đó thì màu đỏ (redness) là dấu hiệu” (ibid., 5.287).
[IMG]  [/IMG]
Trong khi lựa chọn của Saussure là phớt lờ tính vật chất của dấu hiệu ngôn ngữ học, thì đa số các nhà lý thuyết ngôn ngữ sau đó, những người mà trước đó đã chấp nhận mô hình của ông, đã quay sang tái khẳng định tính vật chất của dấu hiệu (hoặc một cách khắt khe hơn, của kí hiệu). Các nhà dấu hiệu học phải rất thận trọng sử dụng bất cứ nhân tố mà người sử dụng dấu hiệu qui vào nghĩa, và hình thức vật chất của dấu hiệu đôi khi tạo nên sự khác biệt. Những nhà lý thuyết đương thời có xu hướng chấp nhận rằng hình thức vật chất của dấu hiệu có thể sản sinh các ý nghĩa (connotations) của riêng nó. Vào đầu năm 1929 Valentin Voloshinov xuất bản cuốn “Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ” (Marxism and the Philosophy of Language) bao gồm một bài phê bình của nhà duy vật (materialist) đối với mô hình mang tính tâm lý và hoàn toàn duy tâm (idealist) của Saussure. Voloshinov mô tả quan niệm của Saussure như “sự biểu lộ ấn tượng nhất” (the most striking expression) của “chủ nghĩa khách quan trừu tượng” (abstract abjectivism) (Voloshinov 1973, 58). Ông khăng khăng rằng “dấu hiệu là một hiện tượng của nội giới” (a sign is a phenomenon of the external world) và rằng “dấu hiệu …là cá biệt, một vật vật chất”. Mỗi dấu hiệu có “một loại hiện thân vật chất nào đó, dù bằng âm thanh, khối lượng vật lý hay màu sắc, vận động cơ thể hay tương tự, đều như nhau” (ibid., 10-11; cf. 28). Đối với Voloshinov, mọi dấu hiệu, kể cả ngôn ngữ, đều có “hiện thực vật chất cụ thể” (concrete material reality - ibid., 65) và các thuộc tính vật lý của nội dung dấu hiệu”.
Lý thuyết phân tích tâm lý cũng góp phần vào việc tân trang lại kí hiệu – trong lý thuyết Freud về giấc mơ thì âm thanh của kí hiệu có thể được xem như một sự hướng dẫn tốt hơn cho cái có thể được kí hiệu của nó, hơn bất cứ “việc giải mã” theo qui ước nào đã được đề xuất (Freud 1938, 319). Chẳng hạn, Freud báo cáo rằng giấc mơ của một phụ nữ trẻ được hứa hẹn về một hôn nhân trang hoàng với hoa – kể cả hoa linh lan (lily of the valley) và hoa tím (violet). Chủ nghĩa biểu tượng phổ biến gợi ý rằng linh lan là biểu tượng về lòng nhân hậu và người phụ nữ đồng ý kết giao với chúng bằng sự thuần khiết. Tuy nhiên, Freud ngạc nhiên khám phá rằng cô ta kết giao với từ “violet” một cách ngữ âm với từ tiếng Anh “violate”, gợi ý nỗi sợ của cô về bạo lực (violence) và cưỡng bức (một từ khác chỉ về hoa – defloration: sự làm rụng hoa hay cưỡng bức) (Freud 1938, 382-3). Nếu điều này quen thuộc thì chủ đề giấc mơ cá biệt trên là nét đặc biệt của phim “Bản phân tích cuối cùng”(Final Analysis- 1992). Như nhà lý thuyết phân tích tâm lý Jacques Lacan nhấn mạnh (đầu tiên năm 1957), các khái niệm Freud về sự cô đọng (condensation) và chuyển dời (displacement) đã minh họa sự quyết định về cái được kí hiệu bởi kí hiệu trong giấc mơ (Lacan 1977, 159ff). Trong khái niệm cô động, nhiều tư tưởng cô đọng lại trong một biểu tượng, trong khi ở khái niệm chuyển dời thì ước muốn vô thức được chuyển dời một cách rõ ràng sang một biểu tượng tầm thường (để tránh sự kiểm duyệt về giấc mơ).
Các nhà lý thuyết hậu cấu trúc đang cố gắng khôi phục kí hiệu. Chủ nghĩa dĩ âm vi trung (phonocentrism) liên minh với sự đàn áp của Saussure về tính vật chất của dấu hiệu ngôn ngữ học đã bị thách thức vào năm 1967, khi nhà hậu cấu trúc Pháp Jacques Derrida, trong quyển Về Ngữ pháp học (Of Grammatology), đã tấn công tính ưu tiên của nói so với viết vốn là quan điểm của Saussure (cũng như trong công trình của nhiều nhà ngôn ngữ học khác, trước và sau đó) (Derrida 1976). Từ Plato đến Lévi-Strauss, từ nói đã giữ vị trí ưu tiên trong thế giới quan phương Tây (Western worldview), được xem như gắn bó mật thiết với ý thức chúng ta về bản ngã và kiến tạo dấu hiệu về sự thật và xác thực (truth and authenticity). Nói đã trở nên quá quen thuộc một cách triệt để, rằng “không những kí hiệu và cái được kí hiệu dường như hợp nhất, mà, trong sự hỗn độn này, kí hiệu dường như xóa chính nó hoặc trở nên rõ ràng hơn” (not only do the signifier and the signified seem to unite, but also, in this confusion, the signifier seems to erase itself or to become transparent)(Derrida 1981, 22). Viết, một cách truyền thống, đã bị hạ xuống vị trí thứ hai. Sự táo bạo về giải cấu trúc đã ghi dấu “sự trở lại của kẻ bị đàn áp” (the return of the repressed) (Derrida 1978, 197). Bằng cố gắng xuất bản “Ngữ pháp học” hay nghiên cứu về nguyên bản, Derrida đã bảo vệ sự ưu việt về tính vật chất của từ. Ông lưu ý rằng nét đặc trưng của từ không thể được dịch hay mang vào một ngôn ngữ khác. Tính vật chất một cách chính xác là điều mà việc dịch loại bỏ” (The materiality of a word cannot be translated or carried over into another language. Materiality is precisely that which translation relinquishes) – việc dịch tiếng Anh này có lẽ minh họa một ít sự mất mát như thế (ibid., 210).
Roland Barthes cũng cố gắng khôi phục vai trò của kí hiệu trong hoạt động viết. Ông lý luận rằng trong viết văn chương “cổ điển”, người viết “luôn phải đi từ cái được kí hiệu đến kí hiệu, từ nội dung đến hình thức, từ ý tưởng đến văn bản, từ đam mê đến biểu đạt” (Barthes 1974, 174). Tuy nhiên, điều này trực tiếp đối lập với cách mà Barthes đã miêu tả hoạt động viết. Đối với ông, viết là vấn đề làm việc với kí hiệu và để cho cái được kí hiệu tự chăm sóc lấy – một hiện tượng nghịch lý mà những nhà văn khác thường nói đến (Chandler 1995, 60ff). Các nhà lý thuyết sau đó cũng đã cố gắng “tái vật chất hóa” (rematerialize) dấu hiệu ngôn ngữ học, nhấn mạnh rằng các từ là những vật (things) và văn bản là bộ phận của thế giới vật chất (e.g. Coward & Ellis 1977; Silverman & Torode 1980). Jay David Bolter lý luận rằng “dấu hiệu luôn neo đậu ở trung gian (medium). Chúng có thể ít nhiều phụ thuộc vào các đặc tính của một trung gian - chúng có thể di chuyển ít nhiều hợp lý đến những trung gian khác – nhưng không có cái gì như dấu hiệu mà lại không có một trung gian (but there is no such thing as a sign without a medium) (Bolter 1991, 195-6). Đây là một sai lạc nhỏ, vì, như Justin Lewis lưu ý “dấu hiệu không có sự tồn tại vật chất, vì nghĩa được mang vào từ hay đối tượng, không phải được khắc vào trong phạm vi chúng. Chỉ có kí hiệu – tiền đơn vị về nghĩa – tồn tại như một thực thể vật chất” (the sign has no material existence, since meaning is brought to words or objects, not inscribed within them. Only the signifier - the unit prior to meaning - exists as a material entity) (Wren-Lewis 1983, 181). Tuy nhiên, lưu ý của Bolter áp dụng nhiều cho trung hiệu (sign vehicle), và như Hodge và tripp lưu ý, “cớ bản đối với mọi phân tích dấu hiệu học là việc bất cứ hệ thống dấu hiệu nào (semioticcode) cũng đều được mang bởi một trug gian vật chất với các yếu tố cơ bản về cấu trúc của riêng nó” (Hodge & Tripp 1986, 17). Hơn nữa, một số trung gian dẫn tới nhiều hệ thống dấu hiệu tương tác nhau: ví dụ truyền hình và phim ảnh, tận dụng lời nói, thị giác, thính giác và các dấu hiệu di động. Trung gian không phải là “trung hòa”, mỗi trung gian có những miễn cưỡng của riêng nó và, như Umberto Eco lưu ý, mỗi trung gian đều đã “được giao nhiệm vụ tạo nghĩa văn hóa” (charged with cultural signification) (Eco 1976, 267).
Chẳng hạn, nhiếp ảnh và phương tiện nghe nhìn đa số luôn được xem là “thực” hơn các hình thức biểu đạt khác. Gunther Kress và Theo van Leeuwen lý luận rằng “biểu đạt vật chất của văn bản luôn là ý nghĩa, nó là đặc tính dấu hiệu học biến thiên một cách cách biệt (Kress & van Leeuwen 1996, 231). Vì thế thay đổi kí hiệu ở mức độ hình thức hay trung gian có thể ảnh hưởng đến cái được kí hiệu – ý thức mà người đọc tạo nên bằng những gì bề ngoài là cùng “nội dung”. Phá vỡ quan hệ bằng cách truyền bản sao có khả năng bị xem với quan niệm khác biệt như sự phá vỡ trong tình huống mặt đối mặt.
Tôi đã ám chỉ đến nét khu biệt mơ hồ giữa hình thức và nội dung. Nhà ngôn ngữ học Louis Hjelmslev thừa nhận rằng “không thể có nội dung mà không có sự biểu đạt, hay nội dung vô biểu đạt (expressionless content), cũng không thể cómột biểu đạt mà không có một nội dung, hay biểu đạt vô nội dung (contentless expression) (Hjelmslev 1961, 49). Tuy nhiên, ông đưa ra một cơ cấu tạo điều kiện cho các nét khu biệt mang tính phân tích (ibid., 47ff). Trong khi ông qui vào “các bản mặt” (planes) biểu đạt và nội dung (kí hiệu và được kí hiệu của Saussure), ông đã làm phong phú hơn mô hình này (ibid., 60). Đóng góp của ông là việc đề xuất cả hai mặt biểu đạt lẫn nội dung đều có thực chất và hình thức. Vì thế có 4 phạm trù: thực chất về biểu đạt, hình thức về biểu đạt, thực chất về nội dung, hình thức về nội dung. Các nhà lý thuyết khác nhau như Christian Metz đã tin vào nét khu biệt lý thuyết này và họ có phần khác với những gì họ qui vào 4 phạm trù (see Tudor 1974, 110; Baggaley & Duck 1976, 149; Metz 1981).
Ngược lại Saussure lại khẳng định ngôn ngữ là “một hình thức, không phải thực chất” (a form, not a substance), cơ cấu Hjelmslev cho phép ta phân tích văn bản dựa vào các chiều kích khác nhau của chúng và ban cho mỗi trong số chúng tiềm năng tạo nghĩa. Một ma trận như thế cung cấp một cơ cấu hữu dụng cho việc phân tích văn bản có hệ thống, mở rộng ý niệm về những gì kiến tạo một dấu hiệu, và nhắc nhở ta rằng tính vật chất của dấu hiệu có thể tạo nghĩa trong chính nó. Từ một viễn cảnh dấu hiệu học xã hội sáng sủa, Gunther Kress và Theo van Leeuwen đã mô phỏng mô hình ngôn ngữ học của Michael Halliday và khẳng định rằng bất cứ hệ thống dấu hiệu học nào cũng đếu có ba chức năng siêu hình (metafunctions) chính:
- Chức năng siêu hình mang tính quan niệm (the ideational metafunction): để đại diện, trong ý thức tham chiếu hoặc giả-tham chiếu (pseudo-referential), các khía cạnh trải nghiệm thế giới, bên ngoài hệ thống dấu hiệu cá biệt của nó”.
- Chức năng siêu hình giữa các cá nhân (the interpersonal metafunction): hướng các quan hệ giữa người dấu hiệu…và người tiếp nhận/người tái tạo dấu hiệu đó”.
- Chức năng siêu hình mang tính nguyên bản (the textual metafunction): tạo thành văn bản, phức hợp về dấu hiệu làm mạch lạc cả về bên trọng và trong phạm vi ngữ cảnh trong đó hay vì đó mà chúng được sảnh sinh” (Kress & van Leeuwen 1996, 40-41).
Hệ thống dấu hiệu học đặc biệt được gọi là mật mã (codes).
Phan Biên dịch.
Lưu ý: có một số hình ảnh do Phan Biên đưa vào từ các nguồn trên mạng để minh họa thêm.
|