1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Tổng hợp kiến thức Vật Lý hay

Chủ đề trong 'Vật lý học' bởi cai_bang_ao_ban, 06/06/2013.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. cai_bang_ao_ban

    cai_bang_ao_ban Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    30/10/2012
    Bài viết:
    89
    Đã được thích:
    0

    Giải thích sự không trọng lượng của các vật​

    Chúng tôi trích giới thiệu với các bạn một số bản dịch từ tác phẩm Những câu hỏi và bài tập vật lí phổ thông của hai tác giả người Nga L. Tarasov và A. Tarasova, sách xuất bản ở Nga năm 1968. Bản dịch lại từ bản tiếng Anh xuất bản năm 1973. Các bài giảng được trình bày dưới dạng thảo luận hỏi đáp giữa giáo viên và học sinh.
    Giải thích sự không trọng lượng của các vật
    GV: Em hiểu như thế nào câu nói: “Tại xích đạo của một hành tinh, một vật cân nhẹ hơn tại hai cực”?
    HS B: Em hiểu như sau. Lực hút của một vật bởi trái đất tại xích đạo nhỏ hơn tại hai cực vì hai nguyên do. Thứ nhất, trái đất có phần hơi dẹt tại hai cực và do đó khoảng cách từ tâm trái đất đến hai cực có phần có nhỏ hơn đến xích đạo. Thứ hai, trái đất quay xung quanh trục của nó nên lực hút tại xích đạo yếu đi do hiệu ứng li tâm.
    http://giasu99.com/gia-su-ly
    HS A: Hãy nói rõ hơn một chút phần nhận xét thứ hai của bạn.
    HS B: Bạn phải trừ bớt lực li tâm ra khỏi lực hút.
    HS A: Tôi không đồng ý với bạn. Thứ nhất, lực li tâm không tác dụng lên một vật chuyển động theo một vòng tròn. Chúng ta đã nói vấn đề đó trong phần trước (§8). Thứ hai, cho dù một lực như thế có tồn tại chăng nữa, nó không thể ngăn lực hút có giá trị bằng như thể không có chuyển động quay của trái đất. Lực hút bằng GmM/r2 và, như thế, không thể thay đổi chỉ bởi có những lực khác có thể tác dụng lên vật.
    GV: Như các em có thể thấy, câu hỏi “sức nặng của các vật” không đơn giản như lúc mới nhìn vào. Đó là lí do nó là một trong những câu hỏi mà các thí sinh thường trả lời sai. Thực ra, nếu chúng ta tán thành định nghĩa “trọng lượng của một vật” là lực mà vật bị hút bởi trái đất, tức là lực GmM/r2, thì sự giảm trọng lượng tại xích đạo sẽ là do sự dẹt đi tại hai cực (hay sự gồ lên ở xích đạo).
    http://giasu99.com/
    HS B: Nhưng thầy không thể bác bỏ chuyển động quay của trái đất!
    GV: Tôi hoàn toàn đồng ý với em. Nhưng trước tiên tôi muốn nói rằng thông thường, trong cuộc sống hàng ngày, “trọng lượng của một vật” được hiểu không phải là lực mà nó bị hút về phía trái đất, và điều này khá hợp lí, mà là lực đo bởi cái cân lò xo, tức là lực mà vật ép lên trái đất. Nói cách khác là người ta đo phản lực pháp tuyến (lực do vật ép lên mặt đỡ bằng với phản lực pháp tuyến, theo định luật III Newton). Như vậy câu nói “một vật tại xích đạo cân nhẹ hơn tại hai cực” có nghĩa là tại xích đạo nó ép lên mặt đỡ với một lực nhỏ hơn tại hai cực.
    Ta hãy kí hiệu lực hút tại hai cực là P1 và tại xích đạo là P2, phản lực pháp tuyến tại hai cực là N1 và tại xích đạo là N2. Tại hai cực vật nằm yên, còn tại xích đạo vật chuyển động tròn. Như vậy
    P1 – N1 = 0
    P2 – N2 = maht
    trong đó aht là gia tốc hướng tâm. Ta có thể viết lại những phương trình này ở dạng
    N1 = P1
    N2 = P2 – maht (46)
    Ở đây rõ ràng N2 nhỏ hơn N1 bởi vì, thứ nhất P2 nhỏ hơn P1 (do tác dụng của sự dẹt đi tại hai cực), và thứ hai chúng ta trừ P2 cho đại lượng maht­ (tác dụng quay của trái đất).
    HS B: Như vậy câu nói “một vật mất một nửa trọng lượng của nó” không có nghĩa là lực do trái đất (hay bất kì hành tinh nào) hút lên nó đã giảm đi một nửa?
    GV: Đúng rồi, không phải vậy. Lực hút có thể không thay đổi gì hết. Câu nói này có nghĩa là lực do vật ép lên mặt đỡ của nó (nói cách khác là phản lực pháp tuyến) đã giảm đi một nửa.
    HS B: Nhưng như vậy em có thể vứt bỏ “sức nặng” của một vật khá dễ dàng. Cái gì có thể ngăn em không đào một cái hố sâu bên dưới vật và để cho nó rơi vào trong hố cùng với mặt đỡ của nó? Trong trường hợp này sẽ không có lực ép nào tác dụng lên mặt đỡ hết. Điều đó có nghĩa là vật đã hoàn toàn “mất trọng lượng của nó” chăng? Đó có phải là trạng thái không trọng lượng?
    GV: Em đã tự mình đi tới kết luận chính xác. Thực ra, trạng thái không trọng lượng là trạng thái rơi của một vật. Ở đây tôi muốn nêu ra một vài nhận xét. Tôi vừa đưa đến cách hiểu sự không trọng lượng là một trạng thái trong đó lực hút của trái đất bị cân bằng bởi một lực nào đó khác. Trong trường hợp của vệ tinh, lực li tâm được đề xuất là lực cân bằng này. Phát biểu là như sau: lực mà vệ tinh bị trái đất hút và lực li tâm cân bằng nhau và, do đó, hợp lực tác dụng lên vệ tinh bằng không, và đây tương ứng với sự không trọng lượng.
    Tất nhiên, bây giờ thì các em hiểu một xét đoán như thế là không đúng bởi vì không có lực li tâm tác dụng lên vệ tinh. Thật bất ngờ, nếu sự không trọng lượng được hiểu là một trạng thái trong đó lực hút bị cân bằng bởi một lực nào khác thì điều hợp lí hơn là xem một vật không trọng lượng khi nó nằm yên trên một mặt phẳng nằm ngang. Đây chính là một trong những trường hợp trong đó trọng lực bị cân bằng bởi phản lực pháp tuyến! Thật ra, không có sự cân bằng của lực hút là điều kiện cần cho sự không trọng lượng. Trái lại, để cho một vật không trọng lượng, cần cung cấp điều kiện trong đó không có lực nào khác tác dụng lên nó ngoại trừ lực hút. Nói cách khác, điều cần thiết là phản lực pháp tuyến bằng không. Chuyển động của một vật chịu tác dụng của lực hút là sự rơi của vật đó. Như vậy, sự không trọng lượng là một trạng thái rơi, ví dụ sự rơi của một cái thang máy trong hầm mỏ hay chuyển động quay quanh trái đất của một vệ tinh.
    http://giasu99.com/gia-su-ngoai-thuong
    HS A: Ở phần trước (§8), thầy có nói rằng sự quay tròn của một vệ tinh xung quanh trái đất chẳng gì hơn là sự rơi của nó về phía trái đất trong khoảng thời gian dài vô hạn,
    GV: Chuyển động của một vệ tinh quay xung quanh trái đất là đang rơi có thể được trình bày dễ hình dung theo kiểu sau đây. Hãy tưởng tượng em đang đứng tại một đỉnh núi cao và ném một hòn đá theo phương ngang. Chúng ta sẽ bỏ qua sức cản không khí. Vận tốc ban đầu của hòn đá càng lớn, thì nó sẽ rơi càng xa. Hình 42a mô tả quỹ đạo của hòn đá thay đổi dần dần như thế nào theo sự tăng vận tốc ban đầu. Ở một vận tốc v1 nhất định, quỹ đạo của hòn đá rơi trở thành một vòng tròn và hòn đá trở thành một vệ tinh của trái đất. Vận tốc v1 được gọi là vận tốc quỹ đạo tròn. Nó được tìm từ phương trình (34)
    v1 = √ (GM/r)
    Nếu bán kính r của quỹ đạo của vệ tinh lấy xấp xỉ bằng bán kính trái đất thì v1 » 8 km/s.
    HS A: Điều gì sẽ xảy ra nếu khi ném một hòn đá từ đỉnh núi ta tiếp tục tăng vận tốc ban đầu?
    GV: Hòn đá sẽ quay xung quanh trái đất trong quỹ đạo elip dẹt hơn (Hình 42b). Ở một vận tốc v2nhất định, quỹ đạo của hòn đá trở thành một parabol và hòn đá không còn là vệ tinh của trái đất nữa. Vận tốc v2 được gọi là vận tốc thoát. Theo tính toán, v2 xấp xỉ 11 km/s. Giá trị này bằng khoảng √2 lần v1.
    HS A: Thầy đã định nghĩa trạng thái không trọng lượng là một trạng thái rơi. Tuy nhiên, nếu vận tốc ban đầu của hòn đá đạt tới vận tốc thoát, thì hòn đá sẽ rời khỏi trái đất. Trong trường hợp này thầy không thể nói rằng nó đang rơi về phía trái đất. Khi đó, làm thế nào thầy giải thích sự không trọng lượng của hòn đá?
    GV: Rất đơn giản thôi. Sự không trọng lượng trong trường hợp này là sự rơi của hòn đá về phía mặt trời.
    HS A: Như vậy sự không trọng lượng của một phi thuyền vũ trụ đặt ở đâu đó trong không gian giữa các sao là cùng với chuyển động rơi của phi thuyền trong trường hấp dẫn của một thiên thể nào đó chăng?
    GV: Chính xác.
    HS B: Tuy nhiên, dường như em thấy định nghĩa sự không trọng lượng là một trạng thái rơi đòi hỏi một số tinh chỉnh. Một người nhảy dù cũng rơi, nhưng anh ta không có cảm giác đi cùng với sự không trọng lượng.
    GV: Em nói đúng. Sự không trọng lượng không phải là bất kì dạng chuyển động rơi nào. Sự không trọng lượng là cái gọi là rơi tự do, tức là chuyển động của một vật chịu tác dụng của duy nhất (!) trọng lực. Tôi có nói rằng để cho một vật trở nên không trọng lượng, cần tạo ra những điều kiện dưới đó không có lực nào khác, ngoại trừ lực hút, tác dụng lên vật. Trong trường hợp chuyển động rơi của người nhảy dù, có thêm một lực nữa xuất hiện, đó là sức cản của không khí.
    Bài tập
    21. Tính tỉ trọng vật chất của một hành tinh hình cầu trong đó chu kì quay hàng ngày là 10 giờ, biết rằng các vật là không trọng lượng tại xích đạo của hành tinh.
    Gia sư Ngoại Thương rất vui được chia sẻ kiến thức Vật Lý với các bạn.
  2. cai_bang_ao_ban

    cai_bang_ao_ban Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    30/10/2012
    Bài viết:
    89
    Đã được thích:
    0
    Chế tạo được nguồn phát ra các electron không thể phân biệt​

    Các nhà khoa học ở Pháp vừa sáng tạo ra một phương pháp mới tạo ra những electron kết hợp và không thể phân biệt được. Các nhà khoa học đã tạo ra một con chip nhỏ phát xạ electron và sử dụng nó để tạo ra hai electron độc thân phát ra từ hai nguồn khác nhau ở trong cùng một trạng thái lượng tử. Kĩ thuật này là một bước then chốt trong việc phát triển các kĩ thuật xử lí thông tin lượng tử gốc electron.
    Quy tắc fermion
    Electron là fermion và vì thế chúng phải tuân theo nguyên lí loại trừ Pauli cấm những fermion giống hệt nhau chiếm giữ cùng một trạng thái, dẫn tới sự phản tương quan hay “chống ghép cặp”. Mặc dù đã được nhận ra hàng thập kỉ trước, nhưng rất khó tiến hành một thí nghiệm chống ghép cặp bởi vì các chùm electron là không kết hợp – có nhiều electron ở trong bất kì một hệ nào và chúng luôn gây nhiễu với nhau, cũng như với môi trường.
    Đây là cái khích lệ Erwann Bocquillon và Gwendal Féve tại Ecole Normale Supérieure ở Paris, cùng với những đồng nghiệp đến từ Phòng thí nghiệm Quang lượng tử và Cấu trúc nano ở gần Paris và từ Ecole Normale Supérieure de Lyon, xét xem các electron không thể phân biệt có thể được tạo ra bởi những nguồn độc lập hay không. “Ngày nay chúng ta hiểu cách thức các electron chuyển động trong một hệ - một vấn đề rất cơ bản – tốt hơn nhiều rồi. Tất nhiên, cái cũng quan trọng là tạo ra những electron như thế để mã hóa thông tin lượng tử trong tương lai, nhưng trong trường hợp này, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến minh chứng cơ bản của khái niệm thôi,” Féve giải thích.

    http://giasu99.com/gia-su-ly
    Chất khí electron 2D được minh họa bằng màu xanh lục trong hình này, cùng với hai bộ phát và bộ chiết tia. Các electron chuyển động theo đường hướng theo cạnh của mẫu đánh dấu bằng mũi tên, theo 1D. (Ảnh: D Darson, Laboratoire Pierre Aigrain, Ecole Normale Supérieure, Paris)
    Chuyển động bị cấm
    Con “chip” phát xạ electron của các nhà nghiên cứu được chế tạo từ một miếng chất bán dẫn cỡ micro “rất sạch” trong đó các electron truyền đi theo những đường rất thẳng trong vài micron trong mạng 2D trước khi bị tán xạ, làm hạn chế tương tác của chúng. Ta có thể thấy điều này dưới dạng mặt phẳng xanh lục trong hình minh họa ở trên. Sau đó đội nghiên cứu sử dụng một từ trường mạnh để hạn chế thêm chuyển động của các electron chỉ theo 1D dọc theo cạnh của mặt phẳng đó (kí hiệu bằng các mũi tên trong hình), sao cho các electron độc thân được dẫn tới mỗi bộ phát – hai hòn đảo nhỏ của chất khí electron nằm ở mỗi bên hình. Phần màu vàng ở kế bộ phát biểu diễn điện cực kim loại lắng lên trên chất khí electron đó.
    http://giasu99.com/
    Bằng cách thiết lập một xung điện áp cho điện cực kim loại lắng phía trên bộ phát, các nhà nghiên cứu kích hoạt sự phát xạ một electron độc thân đến một bộ chiết tia điện tử có cấu tạo gồm hai ngõ vào và hai ngõ ra. Féve cho biết mẫu của họ có khả năng phát xạ hàng tỉ electron độc thân mỗi giây – một electron trong mỗi nano giây.
    Gia sư Lý đại học Ngoại Thương rất vui được chia sẻ kiến thức Vật Lý với các bạn.
    Đồng bộ hóa hoàn hảo
    “Hai nguồn phát đồng bộ hóa hoàn hảo đến mức cả hai hạt đến đồng thời trên bộ chiết tia và sự chống ghép cặp hoàn hảo xảy ra, nghĩa là hai electron đó luôn luôn tồn tại ở kết cục khác nhau,” Féve giải thích. Điều đó có nghĩa là nếu một electron độc thân được gửi đến một trong hai ngõ vào với ngõ vào bên kia trống không, chẳng hạn, thì electron đó sẽ thoát ngẫu nhiên vào một trong hai ngõ ra. Nhưng trong thí nghiệm trên, hai electron, phát ra bởi hai bộ phát giống hệt nhau, đồng bộ với nhau, nhưng độc lập nhau, sẽ tới đồng thời tại hai ngõ vào của bộ chiết tia và sẽ luôn luôn ló ra ở hai ngõ ra rạch ròi, tuân theo nguyên lí loại trừ Pauli.
    “Hiệu ứng chống ghép cặp electron này chỉ có thể giải thích bằng cơ học lượng tử. Vì nó là một sự giao thoa lượng tử giữa hai hạt và liên quan với tính không thể phân biệt của chúng. Hiệu ứng này sẽ chỉ xảy ra với hai electron ở trong trạng thái lượng tử thuần túy giống nhau không bị ảnh hưởng bởi sự tương tác với môi trường, làm cho hai electron không phân biệt với nhau và là kết hợp,” Féve nói.
    http://giasu99.com/gia-su-ngoai-thuong
    Nhưng ông cũng nhanh chóng cho biết rằng trong khi đội khoa học thật sự đã thu được một mức độ cao của sự không thể phân biệt, nhưng các electron đó không hoàn toàn như thế, nghĩa là một số tương tác môi trường nhỏ xíu thật sự có xảy ra. “Để có thể làm vướng víu các electron, trong khi chúng vi phạm bất đẳng thức Bell, chúng cần hoàn toàn không thể phân biệt – cho nên đây là cái chúng tôi hiện đang nghiên cứu và tìm hiểu,” Féve nói. Các nhà nghiên cứu đang hướng đến chế tạo mẫu của họ nhỏ hơn nữa để các electron đi những khoảng cách ngắn hơn nữa, trong khi vẫn không quên các tác động của nhiệt độ ở những kích cỡ như thế.
    Bài viết được tổng hợp bởi gia sư Ngoại Thương.
  3. cai_bang_ao_ban

    cai_bang_ao_ban Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    30/10/2012
    Bài viết:
    89
    Đã được thích:
    0
    heo các nhà nghiên cứu, một hạt dưới nguyên tử mới được khám phá hồi năm ngoái mà người ta cho rằng có thể là hạt Higgs đã tìm kiếm bấy lâu có thể đưa vũ trụ của chúng ta đến một kết cục thê thảm.
    Khối lượng của hạt giống-Higgs được khám phá tại LHC – cỗ máy va chạm hạt lớn nhất thế giới ở Geneva – là một thành phần chủ chốt trong phép tính dự báo tương lai của không gian và thời gian.
    http://giasu99.com/gia-su-ly
    “Phép tính này cho bạn biết rằng nhiều chục tỉ năm nữa tính từ bây giờ sẽ xuất hiện một thảm họa,” phát biểu của nhà vật lí lí thuyết Joseph Lykken tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Fermi, Mĩ. “Có thể vũ trụ mà chúng ta đang sống trong đó vốn dĩ là không bền, và một lúc nào đó sau hàng tỉ năm nữa tất cả sẽ đi vào diệt vong.”
    [​IMG]
    http://giasu99.com/gia-su-ngoai-thuong
    Dữ liệu va chạm hạt tại LHC thể hiện những sự kiện tương ứng với sự xuất hiện của boson Higgs.
    Hạt boson Higgs là một hiện thân của một trường năng lượng tràn ngập khắp vũ trụ gọi là trường Higgs, người ta cho rằng đó chính là cơ chế lí giải tại sao các hạt có khối lượng. Sau hàng thập niên tìm kiếm bằng chứng rằng trường và hạt này tồn tại, các nhà vật lí tại LHC đã công bố vào tháng 7 năm 2012 rằng họ đã phát hiện ra một hạt mới có những tính chất đề xuất mạnh mẽ rằng nó làboson Higgs.
    http://giasu99.com/gia-su-ly
    Để xác nhận chắc chắn dạng thức của hạt mới, chúng ta cần có thêm dữ liệu. Nhưng nhiều nhà khoa học cho biết họ cược rằng nó chính là boson Higgs.
    Và việc tìm thấy hạt Higg, nếu nó thật sự đã được tìm thấy, không những xác nhận lí thuyết cho biết các hạt thu lấy khối lượng như thế nào, mà nó còn cho phép các nhà khoa học thực hiện những phép tính mới không thể làm được trước khi biết rõ các tính chất của hạt Higgs.
    http://giasu99.com/tim-gia-su
    Ví dụ, khối lượng của hạt mới là khoảng 126 tỉ electron volt, hay khoảng 126 lần khối lượng proton. Nếu hạt đó thật sự là boson Higgs, thì khối lượng của nó hóa ra chừng bằng với cái cần thiết để làm cho vũ trụ về cơ bản không bền, tức là vũ trụ sẽ có cái kết thê thảm trong tương lai xa.
    Đó là bởi vì trường Higgs được cho là có mặt ở mọi nơi, nên nó ảnh hưởng đến chân không của không-thời gian trống rỗng trong vũ trụ.
    “Khối lượng của hạt Higgs liên quan đến mức cân bằng của chân không,” nhà vật lí lí thuyết Christopher Hill tại Fermilab giải thích. “Nó nằm ngay bên đường tới hạn. Đó có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên của vũ trụ, hoặc có thể có nguyên lí vật lí nào đó đang gây ra điều đó. Đó là cái mới mẻ, cái chúng ta không biết trước đây.”
    Theo các nhà khoa học, nếu khối lượng hạt Higgs chỉ khác đi vài phần trăm, thì vũ trụ sẽ không bị diệt vong.
    Nhưng cho dù vũ trụ có một kết thúc kinh hoàng đi nữa, thì ít nhất phải có lí do gì đó chứ. “Bạn sẽ không thật sự nhìn thấy nó đâu, bởi vì nó sẽ đi tới trước bạn với tốc độ ánh sáng,” Lykken nói. “Vì thế bạn không cần lo lắng.”
  4. cai_bang_ao_ban

    cai_bang_ao_ban Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    30/10/2012
    Bài viết:
    89
    Đã được thích:
    0
    Nghe có vẻ như là một địa ngục băng giá, nhưng lần đầu tiên các nhà vật lí đã tạo ra được một chất khí nguyên tử có nhiệt độ dưới không độ tuyệt đối. Kĩ thuật của họ mở đường cho sự phát triển những chất liệu Kelvin âm và những dụng cụ lượng tử mới, và có thể còn giúp giải quyết một bí ẩn vũ trụ học.
    Nam tước Kelvin đã định nghĩa thang đo nhiệt độ tuyệt đối hồi giữa thế kỉ 19 theo nghĩa là không có cái gì có thể lạnh hơn không độ tuyệt đối. Sau đó các nhà vật lí nhận ra rằng nhiệt độ tuyệt đối của một chất khí liên quan với năng lượng trung bình của các hạt của nó. Độ không tuyệt đối tương ứng với trạng thái lí thuyết trong đó các hạt không có năng lượng gì hết, và những nhiệt độ cao hơn tương ứng với những năng lượng trung bình lớn hơn.
    http://inphongbi.info/
    Tuy nhiên, vào thập niên 1950, các nhà vật lí nghiên cứu những hệ vật chất kì lạ hơn bắt đầu nhận ra rằng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Về phương diện kĩ thuật, bạn đọc ra nhiệt độ của một hệ từ một đồ thị vẽ xác suất của những hạt của nó được tìm thấy với những năng lượng nhất định. Thông thường, đa số các hạt có năng lượng trung bình hoặc gần-trung bình, chỉ có vài hạt ít ỏi chuyển động với những năng lượng cao hơn. Trên lí thuyết, nếu tình huống đó bị đảo ngược, với nhiều hạt có năng lượng cao hơn thay vì thấp hơn, thì đồ thị sẽ lật ngược lại và dấu của nhiệt độ sẽ đổi từ nhiệt độ tuyệt đối dương sang âm, theo giải thích của Ulrich Schneider, một nhà vật lí tại trường Đại học Ludwig Maximilian ở Munich, Đức.
    http://inphongbi.info/in-phong-bi-thu
    Schneider và các đồng sự của ông đã đạt tới nhiệt độ dưới không độ tuyệt đối như thế với một chất khí lượng tử cực lạnh gồm những nguyên tử potassium (kalium). Sử dụng laser và từ trường, họ đã giữ từng nguyên tử trong một cấu hình kiểu mạng lưới. Ở nhiệt độ dương, các nguyên tử đẩy nhau, làm cho cấu hình bền. Sau đó đội nghiên cứu điều chỉnh nhanh từ trường, làm cho các nguyên tử hút nhau thay vì đẩy nhau. “Thay đổi này bất ngờ làm chuyển dịch các nguyên tử từ trạng thái bền nhất, năng lượng thấp nhất của chúng sang trạng thái năng lượng khả dĩ cao nhất, trước khi chúng có thể phản ứng,” Schneider nói. “Nó tựa như là đang đi qua một thung lũng, và bất ngờ nhận thấy bạn ở trên đỉnh núi.”

    [​IMG]
    http://inphongbi.info/in-phong-bi-gia-re
    Nhiệt độ phụ thuộc vào phân bố năng lượng.
    Ở nhiệt độ dương, một sự đảo ngược như thế sẽ là không bền và các nguyên tử sẽ suy sụp vào bên trong. Nhưng đội khoa học còn điều chỉnh trường laser bẫy để làm cho các nguyên tử dính vào vị trí của chúng. Kết quả này, công bố trên tạp chí Science, đánh dấu sự chuyển trạng thái của chất khí từ ngay trên không độ tuyệt đối xuống vài phần tỉ của một Kelvin dưới không độ tuyệt đối.
    Wolfgang Ketterle, một nhà vật lí giành Giải Nobel tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge, người trước đây đã chứng minh nhiệt độ tuyệt đối âm trong một hệ từ tính, đã gọi kết quả mới trên là một “thành tựu thực nghiệm”. Các trạng thái năng lượng cao kì lạ khó tạo ra trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ dương trở nên bền ở nhiệt độ tuyệt đối âm – “như thể bạn có thể đứng trên đỉnh kim tự tháp mà không lo nó bị đỗ,” ông nói – và những kĩ thuật như thế có thể cho phép những trạng thái này được nghiên cứu chi tiết. “Đây có thể là một cách tạo ra những dạng mới của vật chất trong phòng thí nghiệm,” Ketterle bổ sung thêm.
    http://inphongbi.info/in-phong-bi-tai-ha-noi
    Nếu được tạo ra, những hệ như vậy sẽ hành xử theo những kiểu kì lạ, theo Achim Rosch, một nhà vật lí lí thuyết tại trường Đại học Cologne ở Đức, người đã đề xuất kĩ thuật mà Schneider và đội của ông thực hiện. Chẳng hạn, Rosch và các đồng sự của ông đã tính được rằng trong khi những đám mây nguyên tử thông thường bị hút xuống dưới bởi lực hấp dẫn, nhưng nếu một phần đám mây ở nhiệt độ tuyệt đối âm, thì một số nguyên tử sẽ chuyển động lên phía trên, rõ ràng kháng lại lực hấp dẫn.
    Một nét đặc biệt nữa của chất khí dưới không độ tuyệt đối là nó na ná ‘năng lượng tối’, lực bí ẩn đẩy Vũ trụ giãn nở với tốc độ ngày càng nhanh kháng lại lực hút hấp dẫn hướng vào trong. Schneider lưu ý rằng các nguyên tử hút nhau trong chất khí mà đội khoa học vừa tạo ra cũng muốn co sụp vào bên trong, nhưng không xảy ra bởi vì nhiệt độ tuyệt đối âm làm chúng cân bằng. “Cái thú vị là đặc điểm kì lạ này xảy ra trong Vũ trụ và cũng xảy ra trong phòng thí nghiệm,” ông nói. “Đây có lẽ là cái các nhà vũ trụ học nên xem xét kĩ lưỡng hơn.”
    Theo Thuvievatly.com
  5. cai_bang_ao_ban

    cai_bang_ao_ban Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    30/10/2012
    Bài viết:
    89
    Đã được thích:
    0
    Bí quyết đạt điểm 10 môn Lý​

    Đạt điểm 10 môn Vật lí trong kỳ thi ĐH, đã bao giờ bạn nghĩ đến chưa? Chàng sinh viên lớp Kỹ sư Chất lượng cao Việt Pháp ĐH Bách Khoa Hà Nội Nguyễn Thế Kha sẽ cho chúng ta biết mình đã làm được điều đó như thế nào.
    Giành giải Nhất tuần trong cuộc thi thử TN THPT tháng 4/2007 và “ẵm” trọn giải thưởng 5.000.000 đ của Hocmai.vn, cậu học sinh trường THPT Cao Bá Quát- Hà Nội và Hocmai.vn năm nào giờ đây đã là sinh viên lớp Kỹ sư Chất lượng cao Việt Pháp ĐH Bách Khoa Hà Nội.

    Người chúng tôi muốn nói đến đó chính là Nguyễn Thế Kha, cậu học sinh đạt 26,5 điểm của kỳ thi ĐH, trong đó môn Vật lí đạt điểm 10 tuyệt đối.

    [​IMG]
    http://giasu99.com
    “Hồi học cấp 3 em là lớp trưởng vì vậy khi có thông tin học tập và thi cử tại Hocmai.vn, em đã truyền đạt tới các bạn trong lớp. Nhiều bạn khi đó còn ái ngại vì cách thức học và thi quá mới mẻ và sợ khó học cũng như khó đoạt giải. Để chứng minh điều ngược lại, em đã đăng ký học, thi và ngay lập tức vượt qua rất nhiều những “đối thủ” mạnh đến từ nhiều trường THPT lớn trong cả nước để giành giải Nhất tuần với số tiền thưởng 5.000.000 đ.

    Chính trong thời gian này em đã hoàn thiện hơn các kỹ năng làm bài thi để vững tâm trong kỳ thi ĐH. Ngay sau đó các bạn trong lớp trong trường hồ hởi đăng ký tham gia và em không phải là người cuối cùng trong lớp, trong trường nhận được các giải thưởng tại Hocmai.vn.”, Nguyễn Thế Kha bồi hồi tưởng nhớ lại.

    Để đạt được những thành tích học tập trên Hocmai.vn cũng như đỗ vào ĐH Bách Khoa, Kha đã phải nỗ lực rất nhiều. Học đều các môn và yêu thích môn Vật lí từ những năm cấp 2 cùng với sự chăm chỉ đó là một trong những nguyên nhân giúp Kha giành điểm tuyệt đối môn Vật lí trong kỳ thi ĐH.
    http://giasu99.com/tin-tuc-gia-su/kinh-nghiem-on-toan-danh-cho-si-tu.html
    Lên cấp 3, mang theo niềm đam mê môn Vật lí Kha hầu như “ăn ngủ” với môn học này. Sau khi chinh phục những bài tập trong sách giáo khoa, Kha bắt đầu “xâm lược” các bài tập nâng cao ở sách bài tập, các bộ đề thi từ những năm trước. Chăm chỉ giải nhiều dạng đề đã giúp cho Kha có thêm kinh nghiệm “đọc” đề thi và các kỹ năng giải một bài tập Vật lí nhanh nhất.

    Học khối A nhưng phần lý thuyết của môn Vật lí Kha cố gắng học thuộc hết. Theo Kha đa số kiến thức lý thuyết trong kỳ thi ĐH đều tập trung vào lớp 12, vì vậy việc học hết lý thuyết cũng không phải là một “nhiệm vụ bất khả thi”. “Tất nhiên các bạn không thể cầm quyển sách lên để đọc thuộc từng trang một. Đó là điều không tưởng khi thời gian này các bạn phải ôn luyện rất nhiều môn khác nhau, thêm vào đó là tâm lý lo lắng khi đứng trước hai kỳ thi lớn”, Kha cho biết.
    http://giasu99.com/tin-tuc-gia-su/tin-nhan-tu-cuoc-song.html
    Vậy thì làm cách nào để “xơi gọn” phần lý thuyết? Rất đơn giản, Kha tâm sự: “Vật lí là môn học có tính tương tác và ứng dụng rất cao trong đời sống xã hội. Khi học đến một vấn đề nào đó các bạn hãy cố gắng liên hệ những điều tương tự, các sản phẩm tương quan trong cuộc sống và móc nối các hiện tượng lại với nhau. Ví dụ về lực đẩy, các bạn có thể hình dung đến chiếc bơm xe đạp, nén khí…điều này không những giúp các bạn nhập tâm hơn trong quá trình học mà còn biến những phần lý thuyết tưởng chừng khô khan thành mềm mại dễ học.”

    Riêng với phần bài tập, theo kinh nghiệm của Kha các bạn nên làm thật nhiều. Chăm chỉ không bao giờ là thừa đối với mọi học sinh ở tất cả các lứa tuổi. Bài tập thì có nhiều nhưng cần phải biết phân loại thành những dạng khác nhau nhằm tìm ra được cách thức giải và điều quan trọng là không bị lẫn. Qua đó các bạn sẽ hình thành được các kỹ năng giải nhanh, giải đúng, giải trúng trọng tâm yêu cầu của đề thi.
    Những bài tập Vật lí thi ĐH thông thường chỉ tập trung vào bốn phần chính gồm: Cơ, Điện, Quang và Hạt nhân. Với mỗi phần đều có những đặc trưng riêng, vì vậy trước khi giải bất kỳ một bài tập các bạn cần xác định rõ bài tập mình chuẩn bị giải thuộc phần nào. Từ đó sẽ có những kỹ năng cần thiết và cách giải phù hợp. Điều này sẽ giúp các bạn tiết kiệm được thời gian và tránh được những sai sót dù là nhỏ nhất.

    Lúc này, thời gian chính là điều các bạn thấy thiếu nhất. Tuy nhiên, theo Kha nếu biết cách sắp xếp hợp lý thời gian học giữa các môn trong ngày, trong tuần sẽ khắc phục được yếu tố thời gian. Sau khi kết thúc kỳ thi TN các bạn sẽ có khoảng 1 tháng để ôn tập. Hãy chia khoảng thời gian ấy ra thành những “đoạn” nhỏ để ôn luyện sao cho đạt hiệu quả nhất mà không bị “rối” các kiến thức của ba môn thi ĐH.
    http://giasu99.com/tin-tuc-gia-su/kinh-nghiem-on-toan-danh-cho-si-tu.html
    “Hiện nay máy tính là một công cụ không thể thiếu đối với “dân” khối A, B, D trong kỳ thi ĐH. Với nhiều phép tính đơn giản thay vì có thể tính nhẩm được, các bạn lại dùng máy tính. Điều này đã khiến các bạn mất đi rất nhiều thời gian cho bài làm của mình. Hãy dùng máy tính khi thấy thật sự cần thiết”

    Kì thi ĐH luôn là một thử thách khó khăn đối với tất cả các thí sinh. Kha chia sẻ: “Ngày trước em cũng rất lo lắng, tuy nhiên qua nếu biết chế ngự áp lực đó bằng sự vui vẻ, tham gia chơi thể thao vào những lúc rảnh rỗi điều đó không những sẽ giúp các bạn giữ gìn sức khỏe mà việc tiếp thu bài sẽ rất nhanh. Em tin rằng với kiến thức cùng sự nỗ lực cố gắng của bản thân, các bạn sẽ “vượt vũ môn” dễ dàng để “hóa rồng” trong kỳ thi ĐH sắp tới.”
    Được chia sẻ bởi gia sư ngoại thương
  6. shopytenet

    shopytenet Thành viên mới Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    09/04/2013
    Bài viết:
    284
    Đã được thích:
    3
    Nói chung học cái gì cũng thế thôi, quan trọng nhất là sự chăm chỉ!
  7. cai_bang_ao_ban

    cai_bang_ao_ban Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    30/10/2012
    Bài viết:
    89
    Đã được thích:
    0
    Chế tạo thành công da người nhân tạo

    Các nhà khoa học vừa chế tạo thành công loại vật liệu có khả năng cảm nhận áp lực như da người.
    AFP cho biết, Ali Javey, một giáo sư khoa học máy tính của Đại học California tại Mỹ, cùng các đồng nghiệp tìm ra cách chế tạo da điện tử. Nó bao gồm mạng lưới sợi nano được tạo nên từ gecmani (Ge) và silicon (Si). Mạng lưới sợi nano cuộn quanh một màng polyimide có độ dính cao. Các transitor kích cỡ nano được đặt lên phía trên mạng lưới sợi. Một lớp cao su có tính đàn hồi cao và nhạy cảm với áp lực nằm trên cùng.
    Gia sư Ngoại Thương
    Phiên bản mẫu của da điện tử có kích thước 49 cm2. Thử nghiệm cho thấy nó có thể phát hiện áp lực từ 0 tới 15 kilopascal – tương đương với lực trong các hoạt động hàng ngày của con người như đánh chữ trên máy tính, cầm cốc.
    Nghiên cứu của Đại học California được công bố trên tạp chí Nature Materials của Anh.
    Giáo sư Zhenan Bao của Đại học Stanford – hiện được coi là một trong những nữ chuyên gia hóa học hàng đầu tại Mỹ - cũng chế tạo được da điện tử nhờ một kỹ thuật khác. Bà dùng một tấm màng cao su có đặc tính thay đổi độ dày theo áp lực. Những tụ điện được cấy vào trong màng cao su để đo sự biến đổi của áp lực. Điểm yếu của da điện tử do Bao chế tạo là nó không giãn.
    [​IMG]
    Gia sư Toán rất vui được chia sẻ kiến thức với các bạn.
    “Tốc độ đáp ứng của da điện tử này đối với áp lực tương đương với da người, tức là chỉ trong vòng vài phần nghìn của giây. Đặc tính đó cho phép da điện tử cảm nhận được áp lực ngay tức thì”, Bao nói với AFP.
    John Boland, một chuyên gia về công nghệ nano của Đại học Trinity, Ireland, bình luận rằng hai phát minh nói trên là bước tiến quan trọng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Trong nỗ lực tìm kiếm những thiết bị điện tử có khả năng thay thế 5 giác quan của người, giới khoa học đã chế tạo được mắt điện tử và tai điện tử. Mũi điện tử, lưỡi điện tử và da điện tử vẫn chưa được phát minh. Nhiều nhà khoa học nhận định da điện tử là thách thức lớn nhất.
    Các robot ngày nay đảm nhận được rất nhiều việc khó, song vì không có khả năng cảm nhận áp lực như người nên chúng không thể thực hiện nhiều việc cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của người như lật trang báo, cầm cốc thủy tinh, xếp đĩa. Những người mất chân, tay có thể sử dụng chi giả, song những chi đó không thể cảm nhận được áp lực như chi thật. Sự ra đời của da điện tử có thể chấm dứt những vấn đề này, dẫn tới sự ra đời của thế hệ robot và chi giả có lớp da tinh vi như da người.
    Được tổng hợp bởi các gia sư giỏi

Chia sẻ trang này