Thể thao › Diễn đàn bạn đọc
Bản quyền truyền hình AVG-VFF-VPF: Góc nhìn pháp lý
Cập nhật lúc 02/01/2012 12:42:57 PM (GMT+7)
Thời gian gần đây, các phương tiện truyền thông đăng tải các vấn đề liên quan đến bản quyền truyền hình giữa AVG – VFF- VDF.
Việc ký hợp đồng bản quyền truyền hình giữa VFF và AVG diễn ra trước khi VPF được thành lập. Các thành viên chủ chốt của VPF đòi xem xét lại hợp đồng nhưng phía VPF không được AVG chấp nhận trở thành đối tác để thương thảo lại hợp đồng với lý do VFF mới là chủ thể chính đã ký với AVG. Còn VPF chỉ là bên kế thừa một phần quyền lợi và nghĩa vụ của hợp đồng.
Tuy các thông tin liên quan đến hợp đồng không được công khai một cách cụ thể, chi tiết cũng như các văn bản liên quan giữa VFF và VPF về tổ chức các giải thi đấu thuộc VPF như thế nào. Nhưng với một số thông tin có được từ các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua và các văn bản pháp luật liên quan, dưới đây chúng tôi phân tích vấn đề này dưới các thông tin có được nêu trên và hoàn toàn chỉ mang tính chất tham khảo.
VFF có quyền gì về tổ chức thi đấu bóng đá?
Theo Điều 6, Điều lệ của VFF được Bộ Nội vụ phê duyệt theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BNV ngày 15/9/2005 thì VFF có nhiệm vụ:
“2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thi đấu bóng đá quốc gia mang tính chuyên nghiệp cao phù hợp với hệ thống thi đấu khu vực và thế giới, gồm các giải: Vô địch quốc gia, cúp quốc gia, siêu Cúp, hạng nhất, hạng nhì, các lứa tuổi, bóng đá nữ và các giải khác. ….
4. Tổ chức và quản lý theo thẩm quyền các cuộc thi đấu bóng đá trong nước và quốc tế (kể cả các trận đấu giao hữu) được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, về các mặt:
a) Tuân thủ Điều lệ, Luật thi đấu và các quyết định của FIFA, AFC.
b) Giải quyết tranh chấp giữa các cầu thủ, cán bộ, huấn luyện viên (HLV) và các tổ chức thành viên của Liên đoàn…”
Theo qui định của Luật TDTT ngày 29/11/2006, thì Liên đoàn thể thao quốc gia có các quyền và nghĩa vụ như sau:
Điều 71. Quyền và nghĩa vụ của liên đoàn thể thao quốc gia
... 4. Huy động mọi nguồn lực phát triển môn thể thao; tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ hoạt động thể thaotheo quy định của pháp luật.
... 7. Tổ chức, quản lý các giải thể thao quốc gia và giải thể thao quốc tế tại Việt Nam theo thẩm quyền.
Theo Điều 40 LTDTT qui định:
“Điều 40. Thủ tục đăng cai tổ chức giải thể thao thành tích cao
1. Hồ sơ xin phép đăng cai tổ chức giải thể thao bao gồm:
a) Đơn xin đăng cai tổ chức giải thể thao, trong đó nêu rõ mục đích tổ chức, nguồn tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật;
b) Điều lệ giải thể thao;
c) Danh sách ban tổ chức giải thể thao;
d) Chương trình thi đấu và các hoạt động khác của giải thể thao;
đ) Tên giải thi đấu; huy chương, huy hiệu, cờ hiệu, biểu tượng của giải.
2. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, người có thẩm quyền quyết định tổ chức giải thể thao quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 38 của Luật này có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, nếu không cho phép phải nêu rõ lý do …:
Theo các qui định nêu trên, về nguyên tắc thì VFF được quyền tổ chức và quản lý theo thẩm quyền các cuộc thi đấu bóng đá trong nước và quốc tế (kể cả các trận đấu giao hữu) được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam nhưng phải lập thủ tục xin cấp phép tổ chức và phải được Bộ trưởng Bộ VHTT&DL chấp thuận.|
Trên thực tế, trước khi thành lập VPF, VFF là cơ quan tổ chức và quản lý các giải đấu như Giải vô địch quốc gia, Cúp quốc gia, Giải hạng nhất, hạng nhì, Giải vô định bóng đá nữ, Cúp VFF, một số giải U và các trận thi đấu giao hữu có đội tuyển quốc gia thi đấu tại Việt Nam ... Do đó, khi VFF đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép tổ chức các cuộc thi đấu thì VFF là chủ sở hữu các giải đấu này nên có toàn quyền bán bản quyền truyền hình cho đối tác khác theo qui định.
Mặt khác, tuy VFF lên kế hoạch một số giải đấu cho các lứa tuổi U nhưng trên thực tế thì cơ quan tổ chức các giải này lại không phải là VFF. Ví dụ, giải U21 quốc gia do báo Thanh Niên tổ chức hoặc một số giải đấu giao hữu do một số câu lạc bộ bóng đá tổ chức trong thời gian qua …
Như vậy, VFF chỉ là cơ quan đầu mối lên kế hoạch tổ chức các giải đấu chứ không phải là cơ quan độc quyền tổ chức các giải đấu đó, mà tuỳ điều kiện hoàn cảnh của từng giải đấu (đã được lên kế hoạch) sẽ được thống nhất để có thể thực hiện hay không hay hoặc do cơ quan, đơn vị nào đứng ra thực hiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Không biết Hợp đồng giữa VFF và AVG có nêu các nội dung gì về việc VFF phải tổ chức các giải đấu cụ thể nào. Tuy nhiên, do VFF không phải cơ quan được độc quyền tổ chức các sự kiện này, vì thế, nếu các sự kiện này hàng năm có thay đổi về cách thức tổ chức (có diễn ra hay không, thời điểm và địa điểm như thế nào) và ai đứng ra tổ chức các giải đó thì VFF cũng không thể quyết định được.
Trường hợp nếu VFF có cam kết cụ thể với AVG phải tổ chức giải đấu nào đó nhưng không thực hiện được mà do không tổ chức được hoặc do cơ quan, đơn vị khác đứng ra thực hiện dẫn đến AVG không có bản quyền truyền hình thì tự VFF phải chịu trách nhiệm với AVG còn cơ quan, tổ chức thực hiện giải đấu đó không liên quan.
Vì vậy, có thể hiểu rằng hợp đồng đã ký giữa VFF và AVG là loại hợp đồng mở, tức là nếu trong thời hạn của hợp đồng mà VFF tổ chức sự kiện thi đấu bóng đá nào thì bản quyền truyền hình các sự kiện đó thuộc về AVG, còn nếu cơ quan, đơn vị khác được phép tổ chức sự kiện thi đấu bóng đá đó thì VFF không có quyền chủ sở hữu nên AVG cũng không có bản quyền truyền hình về sự kiện này.
Tính chất pháp lý của Hợp đồng giữa VFF và AVG
Theo Điều lệ của VFF nêu trên thì cơ quan có thẩm quyền cao nhất của VFF là Đại hội Đại biểu toàn quốc họp thường kỳ 04 năm một lần, Đại hội thường niên hoặc Đại hội bất thường. Trong đó Đại hội toàn quốc có thẩm quyền: “Thông qua quyết toán tài chính nhiệm kỳ trước và kế hoạch tài chính nhiệm kỳ mới”- điểm d, khoản 1 Điều 20.
Ngoài thẩm quyền của Đại hội thì Ban chấp hành của VFF có thẩm quyền như sau: “Quyết định kế hoạch tài chính của Liên đoàn”- điểm e, khoản 3 Điều 28.
Về thẩm quyền đại diện theo pháp luật của VFF:
Chủ tịch Liên đoàn: “Đại diện và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi mặt hoạt động của Liên đoàn và là chủ tài khoản”. - điểm a Điều 32.
Việc đại diện và chữ ký của lãnh đạo VFF được qui định tại Điều 40 như sau:
“Chủ tịch và TTK là người đại diện cho LĐBĐVN trong các quan hệ đối nội, đối ngoại.
Các Phó Chủ tịch có quyền ký thay khi được Chủ tịch ủy quyền.
Các Phó Tổng Thư ký được quyền ký thay khi được Tổng Thư ký ủy quyền.”
Theo thông tin chúng tôi có được từ bài viết trên: http://www.tienphong.vn/The-Thao/562...-hinh-tpp.html, có nội dung:
- Ngày 08/6/2010, Liên đoàn có Công văn gửi Bộ VHTT&DL về việc hợp tác với AVG trong thời gian 20 năm và được Bộ đồng ý về chủ trương;
- Ngày 30/10/2010, Thường trực VFF họp ngày 30-10-2010 giao ban Tiếp thị và Vận động tài trợ đàm phán có tính tới quyền lợi các CLB tham dự giải VĐQG 2010.
- Ngày 8-12-2010, Chủ tịch VFF Nguyễn Trọng Hỷ có văn bản giao TTK Trần Quốc Tuấn ký hợp đồng với AVG. Hợp đồng giữa VFF với AVG được ký ngày 8-12-2010.
Đối chiếu các thông tin nêu trên thì chủ trương bán độc quyền truyền hình các giải đấu do VFF tổ chức không được thông qua về kế hoạch tài chính nhiệm kỳ tới tại Đại hội đại biểu toàn quốc hoặc Đại hội thường niên và cũng không được Ban Chấp hành quyết định kế hoạch tài chính của Liên đoàn mà chỉ được xem xét tại thường trực BCH Liên đoàn là không đúng qui định của Điều lệ.
Mặt khác, theo qui định của Điều lệ thì vào thời điểm này, ông Nguyễn Trọng Hỷ là đương kim Chủ tịch Liên đoàn và là người đại diện theo pháp luật của VFF, do đó, ông Hỷ chỉ có thể uỷ quyền cho các Phó Chủ tịch ký thay mình nên việc uỷ quyền cho TTK Trần Quốc Tuấn ký Hợp đồng này là trái qui định.
Vì vậy, nếu chỉ xét về mặt kỹ thuật và các thông tin được nêu trên là đúng thì Hợp đồng đã ký giữa VFF và AVG về bản quyền truyền hình có khả năng bị vô hiệu là rất lớn nếu đưa ra tài phán tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ai có quyền về bản quyền truyền hình trong việc tranh chấp này?
Theo LTDTT qui định về quyền sở hữu đối giải thể thao như sau:
“Điều 53. Quyền sở hữu đối với giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp
1. Việc bảo hộ quyền sở hữu đối với giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp được thực hiện theo pháp luật về dân sự và pháp luật về sở hữu trí tuệ.
2. Liên đoàn thể thao quốc gia, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác tổ chức giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp là chủ sở hữu giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp do mình tổ chức.
3. Chủ sở hữu giải thể thao thành tích cao vàgiải thể thao chuyên nghiệp được chuyển nhượng quyền sở hữu đối với giải thể thao cho tổ chức, cá nhân theo hợp đồng do các bên thoả thuận.
4. Chính phủ quy định chi tiết về quyền sở hữu đối với giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp.”
Theo Nghị định số: 77/2006/NĐ-CP hướng dẫn LTDTT qui định:
“Điều 12. Quyền của chủ sở hữu đối với giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp
1. Liên đoàn thể thao quốc gia, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp và các tổ chức, cá nhân tổ chức giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp có các quyền sau đây:
a) Định hình giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp trên bản ghi âm, ghi hình;
b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình;
c) Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp;
d) Phân phối đến công chúng bản gốc hoặc bản sao giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
2. Chủ sở hữu giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp được chuyển nhượng quyền sở hữu theo hợp đồng do các bên thoả thuận. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng, hợp đồng chuyển nhượng thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự về sở hữu trí tuệ.
3. Các trường hợp sử dụng giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp không phải xin phép, không phải trả tiền chủ sở hữu:
a) Trích dẫn không quá 10% thời gian mỗi cuộc thi đấu hoặc trận thi đấu nhằm mục đích cung cấp thông tin tuyên truyền;
b) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy.
Hiện tại, VPF và AVG đang tranh chấp về bản quyền truyền hình về Giải Ngoại hạng, Giải hạng Nhất, Cúp quốc gia và trận tranh Siêu Cúp. Vấn đề pháp lý cần làm rõ ở đây là:
Hiện này VFF có còn là bên quản lý và tổ chức bốn cuộc thi đấu bóng đá này hay không. Để trả lời câu hỏi này thì cần xác định VFF và VPF ai đã xin phép và được chấp thuận bằng văn bản của Bộ VHTT&DL?. Có thể xảy ra một trong ba trường hợp như sau:
* Trường hợp thứ nhất:
VFF vẫn là đơn vị tổ chức và quản lý cả bốn cuộc thi đấu bóng đá này (đã đăng ký xin phép và được Bộ VHTT&DL chấp thuận) và chỉ chuyển giao cho VDF tiến hành quản lý quá trình hoạt động thì xác định VFF là chủ sở hữu các giải đấu này. Do VFF đã bán bản quyền truyền hình các cuộc thi đấu bóng đã cho AVG nên AVG có toàn quyền về bản quyền truyền hình. Trường hợp VFF chuyển nhượng cho VPF quyền sở hữu về bốn cuộc thi đấu bóng đá này thì quyền lợi và nghĩa vụ của VPF còn phụ thuộc vào qui định của Hợp đồng đã ký giữa VFF và AVG.
* Trường hợp thứ hai:
Sau khi thành lập VPF, VFF từ bỏ hoặc không trực tiếp tiến hành tổ chức và quản lý bốn cuộc thi đấu bóng đá này nữa và VPF đã đăng ký xin phép và được Bộ VHTT&DL chấp thuận thì thì VPF là chủ sở hữu các giải đấu này nên có toàn quyền bán bản quyền truyền hình cho đối tác khác theo qui định. Còn VFF vẫn là chủ sở hữu các cuộc thi đấu bóng đá còn lại nên AVG cũng chỉ có bản quyền truyền hình về các cuộc thi đấu bóng đá còn lại mà VFF có quyền tổt chức và quản lý mà thôi.
* Trường hợp thứ ba: (ít khi xảy ra):
Từ khi có Luật TDTT, nhưng trong quá trình tổ chức các cuộc thi đấu bóng đá mà VFF không xin phép để Bộ VHTT&DL chấp thuận theo qui định và VPF sau khi thành lập cũng chưa xin phép để Bộ VHTT&DL chấp thuận cho phép tổ chức và quản lý bốn cuộc thi đấu bóng đá này thì về nguyên tắc bốn cuộc thì đấu bóng đá này là trái luật và sẽ không được tổ chức hoạt động vì chưa được cấp phép và nếu có diễn ra thì không ai có bản quyền truyền hình về các cuộc thi đấu bóng đá này.
Luật sư Vũ Công Dũng (Trưởng VPLS Bảo Hiến – ĐLS TP. Hà Nội)
Thấy mấy bác luật phân tích quá hay, em dự AVG quả này trắng tay VFF vài chú hạ cánh ko an toàn.
Friend dont’t let friend drink and drive.
Bạn tốt không để bạn mình say và phải cầm lái.
|